Thứ Sáu, 13 tháng 6, 2014

Nợ công Việt Nam


Với 30% các khoản vay trong nước có kỳ hạn 1-3 năm, Bộ trưởng Tài chính - Đinh Tiến Dũng cho rằng yêu cầu tái cơ cấu nợ trong thời gian tới là rất bức thiết.
Là thành viên đầu tiên của Chính phủ đăng đàn trả lời chất vấn chiều 10/6, Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng nhận được yêu cầu từ Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng tập trung vào 4 nội dung chính là nợ công, quản lý thu chi ngân sách, kiểm soát - bình ổn giá và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước. Đây cũng là yêu cầu được người đứng đầu Quốc hội đưa ra với các đại biểu đặt câu hỏi.
Ngay từ đầu phiên chất vấn, các đại biểu bày tỏ sự quan tâm đặc biệt tới vấn đề quản lý nợ công, vốn được đặt đi đặt lại suốt nhiều kỳ họp trước. Đại biểu Lê Thị Công, đoàn Bà Rịa - Vũng Tàu cho rằng, nợ công lớn trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn là một mối lo. "Theo báo cáo, Bộ Tài chính nhận định nợ công vẫn trong ngưỡng an toàn. Tuy nhiên, tôi luôn tự hỏi liệu nợ công có thực sự an toàn không? Và Bộ đã đề ra những giải pháp nào trong thời gian tới để đảm bảo an ninh tài chính quốc gia", đại biểu này đặt câu hỏi.
a-5512-1402412434.jpg
Bộ trưởng Tài chính nhận được nhiều câu hỏi liên quan đến vấn đề nợ công trong lần trả lời chất vấn đầu tiên trước Quốc hội.
Trước đó, trong báo cáo dài hơn chục trang gửi các đại biểu, Bộ trưởng cho biết, theo số tuyệt đối, nợ công trong những năm gần đây có xu hướng tăng. Tuy nhiên, nếu so với GDP thì tỷ lệ thay đổi không nhiều, dao động trong khoảng 50,1-51,8%, riêng ước tính năm 2013 là 54,1%. Bộ trưởng nhận định, nợ hiện vẫn ở dưới mức cho phép theo Nghị quyết của Quốc hội là 65%. 
Trả lời câu hỏi của đại biểu tại nghị trường, người đứng đầu ngành tài chính dành nhiều thời gian và nhắc lại nhiều lần về thời hạn trả nợ, coi đây là vấn đề quan trọng. Ngoại trừ khoảng 50% vay nước ngoài (chủ yếu vay ưu đãi) có thời hạn tương đối dài, một nửa còn lại là nợ trái phiếu trong nước.
Do kinh tế khó khăn, công với việc thị trường vốn chưa phát triển, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết tỷ lệ các khoản nợ phải vay ngắn hạn khá lớn, nhưng đang có xu hướng giảm dần. "Có khoảng 30% huy động trong nước có thời gian trả nợ ngắn, trong vòng 1-3 năm. Bộ cũng đã báo cáo Chính phủ và đề nghị có giải pháp để cơ cấu lại", vị tư lệnh ngành cho biết.
Cũng theo Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng, tỷ lệ trả nợ trên tổng thu ngân sách hàng năm 25%. Tuy nhiên có 10% trong số này là các khoản được vay để đảo nợ, tức là không làm phát sinh thêm nghĩa vụ trả nợ mới. "Do đó, nếu trừ nghĩa vụ vay đảo nợ thì chúng ta vẫn nằm dưới mức 25%", ông Dũng nhận định. 
Người đứng đầu Bộ Tài Chính cũng cho rằng, vấn đề đặt ra là phải huy động được vốn để vừa phục vụ phát triển mới, vừa vay để trả nợ. "Các đại biểu sốt ruột là đúng song mức trả nợ như trên vẫn nằm trong ngưỡng cho phép. Điều chúng ta phải tính tới trong thời gian tới là việc điều hành, bố trí ngân sách trả nợ, huy động nguồn lực trong nước cần tính chuyện dài hơi, dài hạn hơn. Đồng thời, cần tăng cường quản lý vốn vay, đồng thời tính toán hạn mức bảo lãnh của Chính phủ hàng năm", ông Dũng nói. 
Các đại biểu cũng đặt nhiều câu hỏi chất vấn liên quan đến vấn đề nợ thuế, chống chuyển giá... "Tình trạnh nợ đọng thuế còn lớn. Gần đây doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn nên cũng ảnh hưởng đến việc thu. Tuy nhiên tình hình này đã kéo dài nhiều năm. Xin Bộ trưởng cho biết nguyên nhân chính ở đâu?", đại biểu Trần Văn Minh đặt câu hỏi.
Bộ trưởng Tài chính cho biết, năm 2013, ngành đã tiến hành tổng thanh tra, kiểm tra nợ đọng, trốn thuế, gian lận thuế... đã thúc đẩy việc thu ngân sách. Theo báo cáo gửi các đại biểu, ông Dũng cho biết cơ quan thuế đã thanh tra, kiểm tra gần 64.700 doanh nghiệp, qua đó quyết định thu vào ngân sách hơn 13.600 tỷ đồng. Ngành cũng tổ chức đôn đốc, cưỡng chế xử lý được 55% số nợ thuế tại thời điểm cuối 2012, 67 trường hợp chuyển sang cơ quan công an để điều tra xử lý vi phạm hình sự. 
Tuy nhiên, Bộ nhận định, tình hình nợ đọng thuế vẫn chậm được cải thiện. Tổng số tiền thuế nợ đến cuối 2013 là gần 61.000 tỷ đồng (tăng 10,6 % so với cuối 2012) và đến 30/4 lên hơn 67.000 tỷ đồng. Đến ngày 30/4, ngành đã thu và xử lý được gần 8.500 tỷ đồng tiền thuế nợ 2013 chuyển sang năm 2014. 
Bộ trưởng nhận định, nợ thuế tăng do nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính phải ngừng kinh doanh, giải thể, bỏ trốn. Một số đơn vị chiếm dụng tiền thuế để lấy vốn sản xuất kinh doanh...
Để đôn đốc thu hồi nợ thuế năm 2014, Bộ Tài chính cho biết giao chỉ tiêu thu tiền thuế nợ năm 2014 đảm bảo tổng số tiền thuế nợ tại cuối 2014 không vượt quá 5% so với tổng số thu Ngân sách Nhà nước của năm. Đồng thời, phải triển khai đầy đủ, đồng bộ các biện pháp quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế đối với người nộp thuế còn nợ thuế, hạn chế không để phát sinh thêm nợ mới.
Liên quan đến hoạt động chống chuyển giá, Bộ Tài chính cho biết, năm 2013, cơ quan thuế đã thanh, kiểm tra 2.110 doanh nghiệp lỗ, có dấu hiệu chuyển giá và doanh nghiệp có giao dịch liên kết, tăng hơn 66% so với năm 2012. Ngành đã truy thu, truy hoàn, phạt là 988 tỷ đồng, tăng hơn 32% so với năm 2012; giảm khấu trừ 137 tỷ đồng, giảm lỗ xấp xỉ 4.193 tỷ đồng.
Riêng trong 4 tháng đầu năm, ngành đã thanh, kiểm tra 361 doanh nghiệp lỗ, có dấu hiệu chuyển giá và có hoạt động giao dịch liên kết. Sau thanh tra, cơ quan này đã truy thu, truy hoàn và xử phạt là 287 tỷ, giảm khấu trừ hơn 17 tỷ, giảm lỗ là 1.232 tỷ. Ngoài ra, đối với các vấn đề chưa kịp giải đáp, Bộ trưởng Tài chính cho biết sẽ tiếp tục trả lời câu hỏi của các đại biểu trong phiên làm việc đầu giờ sáng mai (11/6)

Theo VnExpress:
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/bo-truong-tai-chinh-tai-co-cau-no-cong-rat-he-trong-3002714.html


Khẳng định nợ công hiện vẫn trong ngưỡng an toàn, song theo Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng, kỷ luật ngân sách cần được thắt chặt để đảm bảo cân đối và có khả năng trả các khoản vay trong những năm tới.


Trước thềm phiên trả lời chất vấn tại Quốc hội chiều 10/6, Bộ trưởng Bộ Tài chính - Đinh Tiến Dũng vừa có văn bản trả lời một số vấn đề được đại biểu quan tâm, liên quan tới nợ công, ngân sách, công tác quản lý giá, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước...   
Là vấn đề được nêu đầu tiên trong báo cáo, đại diện ngành tài chính cho biết theo số tuyệt đối, nợ công trong những năm gần đây có xu hướng tăng. Tuy nhiên, nếu so với GDP thì tỷ lệ thay đổi không nhiều, dao động trong khoảng 50,1-51,8%, riêng ước tính năm 2013 là 54,1%. Bộ trưởng nhận định, nợ công hiện vẫn ở dưới mức theo Nghị quyết của Quốc hội là 65%. 
Dinh-Tien-Dung-8328-1402326754.jpg
Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nhận định phải tăng thu ngân sách từ 12-14% mới đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Ảnh: PV
Báo cáo cũng cho biết, trong cơ cấu có khoảng 50% là nợ nước ngoài với điều kiện vay cơ bản là ưu đãi, thời gian đáo hạn còn lại khoảng 15 năm. 50% còn lại là khoản vay trong nước thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ với kỳ hạn phần lớn nằm trong khoảng từ 2-5 năm. Do đó, theo Bộ Tài chính, áp lực về vay mới để trả các khoản vay cũ trong nước là tương đối lớn. 
Nguyên nhân nợ, theo đại diện ngành, chủ yếu là do thị trường vốn trong nước còn chưa phát triển, đối tượng mua trái phiếu Chính phủ phần lớn là các ngân hàng thương mại. Trong khi đó, cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng này chủ yếu là không kỳ hạn hoặc có thời hạn ngắn. 
Bộ trưởng cũng cho rằng, hiện nay trên thế giới chưa có tiêu chí về phạm vi nợ công áp dụng chung cho các quốc gia. Phần lớn phạm vi này bao gồm nợ Chính phủ và nợ được Chính phủ bảo lãnh. Còn đối với Việt Nam, theo quy định của luật hiện hành, nợ công còn bao gồm các khoản vay của chính quyền địa phương.
Về khoản nợ đọng xây dựng cơ bản, Bộ trưởng cho biết đây là nghĩa vụ phát sinh do cần thiết đẩy nhanh tiến độ một số dự án trọng điểm và việc chấp hành kỷ luật tài chính ở một số nơi chưa nghiêm. Vì vậy, theo ông Đinh Tiến Dũng, cần thực hiện đúng nghị quyết của Quốc hội, quyết định của Thủ tướng về việc thực hiện việc cân đối vốn dự toán để thanh toán các khoản nợ đọng của các công trình trong danh mục đã được phê duyệt. Phấn đấu tăng thu để có nguồn xử lý nợ đọng ở lĩnh vực này.
Theo Bộ trưởng, các khoản nợ này và nợ vay về cho vay lại của Chính phủ đều đã được tính trong phạm vi nợ công. Riêng các khoản của doanh nghiệp không được tính bởi các đơn vị này là người trực tiếp đi vay nợ để đầu tư và có nghĩa vụ, trách nhiệm tự trả nợ.
Tại báo cáo, Bộ trưởng cũng cho biết khả năng cân đối nguồn trả nợ. Theo Bộ Tài chính, với tổng mức dư nợ công hiện nay (54,1% GDP) và dự kiến bội chi Ngân sách Nhà nước đến 2015 và giai đoạn 2016-2020, để đảm bảo khả năng trả nợ cần phải thực hiện đúng các kế hoạch đề ra. Cụ thể, phải tăng thu 12-14% một năm, cân đối Ngân sách Nhà nước vững chắc, bội chi hợp lý, mới có thể dành khoảng 20% tổng thu ngân sách nhà để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ.
Mặt khác, các khoản vay bù đắp bội chi cơ bản chỉ sử dụng cho đầu tư phát triển và thực hiện quản lý, sử dụng hiệu quả, giải ngân đúng tiến độ, đúng quy định. Đồng thời, về cơ bản, Việt Nam phải đảm bảo không vay nước ngoài thương mại, lãi suất cao, thời gian ngắn, kể cả đối với các khoản vay về cho vay lại.
Bên cạnh đó, theo Bộ trưởng, cần nâng cao hiệu quả quỹ tích lũy để đảm bảo nguồn trả nợ của các khoản vay về cho vay lại, định kỳ đánh giá những rủi ro của nợ công để có biện pháp xử lý kịp thời, tái cơ cấu nợ một cách hiệu quả...
Là thành viên Chính phủ đầu tiên đăng đàn trong phiên chất vấn chiều nay, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết sẽ tập trung giảm bội chi, cơ cấu lại nợ và các khoản vay lãi suất cao, thời hạn ngắn, tăng trái phiếu trong nước có kỳ hạn dài. Đồng thời, Bộ Tài chính sẽ xử lý các khoản nợ vay về cho vay lại trong quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước...
 Theo VnExpress:
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/bo-truong-tai-chinh-tang-thu-ngan-sach-12-14-moi-du-tra-no-3002198.html
.

Nợ công với gánh nặng doanh nghiệp nhà nước


Ủy ban Kinh tế của Quốc hội vừa chính thức công bố báo cáo đánh giá tình hình nợ công của Việt Nam với mức độ khá nghiêm trọng và tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Đặc biệt, theo báo cáo, nhiều doanh nghiệp nhà nước (DNNN)  như Vinashin, Vinalines… làm ăn thua lỗ, không hiệu quả đã “đe dọa” an toàn tài chính quốc gia.
Dẫn lại số liệu của Bộ Tài chính (BTC), theo Ủy ban Kinh tế (UBKT), thâm hụt ngân sách (không bao gồm chi trả nợ gốc) trung bình trong giai đoạn 2003-2007 chỉ chiếm 1,3% GDP, con số này tăng gấp đôi lên 2,7% GDP trong giai đoạn 2008-2012. Trong khi đó, tổng nợ công cũng tăng từ 40% GDP cuối năm 2007 lên khoảng 56,3% GDP vào cuối năm 2010 và giảm đôi chút xuống còn 54,9% GDP vào năm 2011 và ước 55,4% GDP vào năm 2012.
Tuy nhiên, những con số này chưa phản ánh đúng bản chất, khi các tổ chức quốc tế đưa ra số thâm hụt ngân sách khác xa. Cụ thể, chỉ tính riêng năm 2009, thâm hụt ngân sách theo báo cáo của BTC chiếm 3,7% GDP, trong khi đó con số tương ứng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cao hơn nhiều, lần lượt là 3,9% và 7,2% GDP.
Đáng chú ý, trung bình trong ba năm 2009-2011, thâm hụt ngân sách của VN thuộc diện cao so với các nước trong khu vực, vào khoảng 3,7% GDP/năm. Con số này gấp hơn 3 lần  Indonesia, gấp hơn 2 lần so với Trung Quốc và gấp khoảng gần 1,5 lần so với Thái Lan.
Nhà nước “gánh nợ”
Nhưng điều đáng ngại nhất lại nằm ở các khoản nợ lớn của tập đoàn (TĐ), tổng công ty (TCT), vốn là DN nhà nước đang làm ăn thua lỗ, đứng trên bờ vực phá sản. Dù luật không hạch toán, không tính vào nợ công, nhưng UBKT vẫn khẳng định: Nợ của khu vực này đang đe dọa nghiêm trọng tới an ninh tài chính quốc gia.
Các DNNN nhận được nhiều ưu đãi, từ tiếp cận tín dụng, đất đai, khai thác tài nguyên, bảo hộ độc quyền… đến nhiều hậu thuẫn khác, nhưng lại làm ăn kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, lãng phí. Nguyên nhân, theo UBKT do sự buông lỏng giám sát từ cấp trên và quản lý yếu kém của lãnh đạo TĐ, TCT. Các DN này vay nợ mới để trả nợ cũ, dùng vốn vay ngắn hạn để trả nợ dài hạn và thậm chí là sử dụng vốn lưu động để đầu tư. Theo số liệu từ BTC, dư nợ nước ngoài Chính phủ bảo lãnh cho khu vực DNNN vào năm 2010 khoảng 4,6 tỉ USD, tương đương với 14,3% tổng dư nợ nước ngoài của VN.
Đáng nói, nhiều DN không thuộc diện bảo lãnh nhưng Chính phủ vẫn thường phải đứng ra hỗ trợ khi làm ăn thua lỗ, không thể trả nợ đúng hạn. Điển hình nhất là các khoản vay ưu đãi của từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB). Nguồn vốn của VDB đến từ phát hành giấy tờ có giá và nhận vốn ODA cho vay lại chiếm 72,4% trong năm 2009. Một phần lớn nguồn vốn này sau đó được VDB cho các DNNN vay ưu đãi để đầu tư. Tuy nhiên, nợ quá hạn và khoanh nợ của VDB đối với cho vay trung, dài hạn tín dụng đầu tư có thời điểm lên tới 8,9% vào 2007 và 12,05% vào cuối 2010. “Phần nợ xấu này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản vay của VDB, trong trường hợp khó khăn thì nhà nước vẫn phải đứng ra thu xếp hoàn trả”, UBKT chỉ rõ.
Nợ công với gánh nặng doanh nghiệp nhà nước
Nhà nước vẫn phải bù đắp cho những thua lỗ ở các tập đoàn như Vinashin - Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Một trường hợp khác là hình thức khoanh nợ của Vinashin tại các NH, cuối cùng Chính phủ vẫn phải bỏ một phần tiền ra để bù đắp. Vinashin sau đó chuyển nợ cho Vinalines và TĐ dầu khí (PVN), khiến các TĐ này lâm vào khó khăn và cuối cùng gánh nặng lại đè lên vai nhà nước. Chính phủ cũng phải tăng vốn điều lệ cho Vinashin từ 9.000 tỉ đồng lên 14.655 tỉ đồng cũng vẫn là tiền từ ngân sách nhà nước (NSNN). Ngoài ra, khoản vay 45 triệu USD từ Ngân hàng ANZ cho dự án xi măng Đồng Bành do TCT cơ khí xây dựng (COMA) đầu tư cũng được BTC đứng ra bảo lãnh khi dự án này rơi vào tình trạng thua lỗ không trả được nợ. Mới đây Thanh tra Chính phủ cũng công bố PVN sai phạm lên tới nhiều  ngàn tỉ đồng. PVN được giữ lại hầu hết lợi nhuận sau thuế trong thời gian dài để hình thành quỹ đầu tư phát triển nhằm thực hiện các dự án trọng điểm về dầu khí, nhưng quỹ này đã được PVN sử dụng cấp vốn cho các công ty con và góp vốn liên doanh thực hiện những dự án không đúng mục đích.
UBKT kết luận: Nếu xét đến cả các tác động gián tiếp thì tín dụng của khu vực DNNN đang nổi lên như là một mối đe dọa đối với nợ công của VN. Một khi kinh doanh thua lỗ, các DN này sẽ không thể trả nợ đúng hạn được cho các NH, cho VDB và cho các chủ nợ nước ngoài. Do hầu hết các DNNN đều thuộc diện “quá lớn” nên các khoản nợ xấu này cuối cùng sẽ phải do NSNN gánh trả.
Bộ máy cồng kềnh, chi tiêu tốn kém
Một nghịch lý đối với nợ công, thâm hụt ngân sách được UBKT “báo động” là do việc chi tiêu quá nhiều. Cụ thể, tỷ trọng chi thường xuyên có xu hướng tăng nhanh, từ mức 51,9% trong năm 2003 lên 64,9% trong 2010 và 67,2% trong 2011. Điều này phần nào cho thấy sự cồng kềnh và chi tiêu tốn kém của bộ máy công quyền.
Ngoài ra, sự mất an toàn do cơ cấu thu ngân sách khi tài nguyên là dầu khí, đất đai đang cạn dần và kể cả việc đẩy tỷ lệ thu từ thuế phí lên rất cao so với các nước trong khu vực. Theo báo cáo của BTC, trung bình 2006-2010, tổng thu và viện trợ của VN chiếm 29,3% GDP. Nếu chỉ tính thu từ thuế và phí là 26,2% GDP. Thu từ dầu thô đang có tỷ trọng ngày càng giảm dần trong tổng thu ngân sách nhà nước, từ 6,9% GDP trong năm 2007 xuống 3,1% GDP trong 2011.
Kết quả tính toán cho thấy, mức độ thâm hụt ngân sách (sau khi loại trừ các khoản thu thiếu tính bền vững như đất đai, tài nguyên, thu viện trợ) trung bình lên tới 11,6% GDP mỗi năm từ 2006-2008 và 8,7% từ 2009-2011. “Rõ ràng, tình trạng thâm hụt ngân sách là rất nghiêm trọng ngay cả khi VN hiện đang có tỷ lệ thu thuế và phí rất cao so với các nước khác trong khu vực”, UBKT khẳng định.
Theo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130528/no-cong-voi-ganh-nang-doanh-nghiep-nha-nuoc.aspx

Các chuyên gia tại Diễn đàn Kinh tế mùa xuân 2014 một lần nữa lên tiếng cảnh báo về an toàn tài chính quốc gia sau các đợt phát hành trái phiếu ồ ạt gần đây.
Phát biểu đầu tiên tại Diễn đàn Kinh tế mùa xuân khai mạc sáng nay (28/4), Tiến sĩ Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng nguy cơ lớn nhất không nằm ở con số mà ở quan điểm sai về nợ công. Hiện nay nợ công của Việt Nam không bao gồm nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ đọng xây dựng cơ bản. Cách tính này theo ông Thiên không cho phép đánh giá đúng nguy cơ thực tế.
"Nếu tính đủ, nợ công phải lên tới gần 100% GDP. Tỷ lệ an toàn theo báo cáo hiện nay là 55,7% và 'theo quy định'. Điều này chứa đựng nguy cơ ảo tưởng về mức độ an toàn của sự rủi ro", ông Thiên cho biết.
no-cong-3802-1398657882.jpg
Gánh nặng trả nợ đối với Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng. Ảnh: Cseward
Theo Viện trưởng Trần Đình Thiên, điều đáng lo lắng là tốc độ nợ tăng nhanh hơn rất nhiều so với GDP nhưng việc đi vay chủ yếu để trả nợ chứ không phải cho sản xuất. Chưa kể, trong cơ cấu, nợ ngắn hạn rất nhiều, khi nền kinh tế suy yếu thì khả năng trả nợ cũng bị ảnh hưởng. "Đồ thị của chúng tôi cho thấy tăng năm nay nghĩa vụ trả nợ là 208.000 tỷ đồng, vượt 26,7% thu ngân sách năm 2014. Mức này đã vượt qua vạch đỏ (25%) và sẽ chiếm tỷ lệ 30% thu ngân sách vào những năm tiếp theo", ông Thiên lo lắng.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh chia sẻ: "Với tốc độ hiện nay, một thời gian ngắn nữa sẽ không đối phó được với nợ công. Cần phải xem lại ngân sách, việc thu hiện nay không đủ cho chi thường xuyên của bộ máy".
Đóng góp tham luận cho diễn đàn lần này, Tiến sĩ Phạm Đỗ Chí và bà Phan Thanh Hà cũng cho rằng 3 năm nữa, gánh nặng trả nợ sẽ tăng rất nhanh chóng ngay cả khi quy mô dư nợ công chưa chạm ngưỡng mất an toàn. Ông Phạm Đỗ Chí phân tích, việc phát hành lượng lớn trái phiếu Chính phủ - một hình thức vay nợ gây nhiều rủi ro - như vừa qua là áp lực rất lớn đến lạm phát. "Cần tính toán dựa trên số liệu cụ thể về nợ công hiện hành để tránh tình trạng vỡ nợ như đã xảy ra với Vinashin, khi phát hành trái phiếu với lãi suất khủng 20% một năm, kỳ hạn 5 năm", vị chuyên gia dẫn lại trường hợp xương máu trước đây.
Ngoài nợ công, nhiều chuyên gia cũng cho rằng nợ xấu đang là nút thắt vô cùng lớn của nền kinh tế, ảnh hưởng đến sự lưu thông vốn nhưng lại cũng có những con số chưa rõ ràng. Theo chuyên gia Trần Đình Thiên, hiện số liệu khác nhau, sai số quá lớn và Chính phủ nên nhìn nhận những tranh luận của các học giả là có ích cho nền kinh tế. 
Hiện nợ xấu đến cuối tháng 2 theo số liệu từ Cơ quan Thanh tra Giám sát Ngân hàng Nhà nước chiếm khoảng 9,7% tổng dư nợ. Xử lý "cục máu đông" theo các chuyên gia là việc phải dứt khoát thực hiện trong năm 2014, 2015. "Nếu tiếp tục duy trì như hiện nay thì nguy hiểm. Chúng ta không nên chỉ dựa vào VAMC để tháo gỡ mà cần tiền tươi thóc thật", ông Trần Đình Thiên nói. Để có "tiền tươi", theo ông có thể cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, bán bớt vốn Nhà nước và thậm chí vay nợ quốc tế nếu cần thiết.
Hiện VAMC đã xử lý được hơn 45.000 tỷ đồng, nhưng chủ yếu đây mới chỉ dừng lại ở động tác nhấc nợ xấu ra khỏi bảng cân đối kế toán của các ngân hàng. Trong khi đó, lượng nợ thu hồi được theo lãnh đạo VAMC mới chỉ hơn 400 tỷ đồng và kế hoạch bán nợ xấu sau khi mua vẫn chưa có tiến triển do vướng cơ chế.
Theo VnExpress:
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/no-cong-nguy-co-len-toi-gan-100-gdp-2984122.html

Nợ công: Quốc hội lo lắng, Chính phủ nói gì?

Số liệu nợ công hiện nay đã tính đúng, tính đủ chưa? Nguồn trả nợ như thế nào? Đó là những câu hỏi được đặt ra từ các kỳ họp trước cho đến kỳ họp này của Quốc hội.

Tại kỳ họp này, khi thảo luận về quyết toán ngân sách năm 2012, có đại biểu đề nghị Chính phủ cần đánh giá kỹ lưỡng và sâu sắc hơn về dư nợ Chính phủ và nợ quốc gia, vì hiện nay chính Kiểm toán Nhà nước cũng không có cơ sở xác định nợ công năm 2012 khi thực hiện kiểm toán chuyên đề về nợ công trong năm 2012. 

Hoàn thành ngày 26/5/2014, báo cáo về sử dụng vốn vay, quản lý nợ công của Chính phủ đã vừa được gửi đến Quốc hội đã trả lời các câu hỏi này.

Vẫn trong giới hạn

Thừa ủy quyền Thủ tướng ký báo cáo, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, năm 2013 tổng số vốn vay nợ công, gồm vay Chính phủ, vay được bảo lãnh Chính phủ và vay của chính quyền địa phương ước đạt 513.720 tỷ đồng, tăng 23,4% so với thực hiện năm 2012.

Tổng số dư nợ công đến ngày 31/12/2013 ở mức 1.913 nghìn tỷ đồng, bằng 53,4% GDP. Trong đó dư nợ Chính phủ ở mức 1.488 tỷ nghìn đồng, bằng 41,5% GDP.

Cũng tính đến cuối năm 2013, tổng số dự án được cấp bảo lãnh vay nước ngoài là 104 dự án, trong đó có 23 dự án đã kết thúc trả nợ, còn 81 dự án vẫn đang trong giai đoạn được bảo lãnh. 

Các dự án này chủ yếu thuộc các lĩnh vực điện, hàng không, xi măng, dầu khí…

Năm qua, Chính phủ tiếp tục cấp bảo lãnh cho 8 chương trình dự án vay vốn từ các tổ chức tín dụng nước ngoài và phát hành trái phiếu quốc tế với tổng trị giá 3.161 triệu USD.

Gồm, dự án mua máy bay A321 trị giá 421 triệu USD; tổ hợp bauxite - nhôm Lâm Đồng 300 triệu USD, bảo lãnh phát hành trái phiếu quốc tế cho Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) theo đề án tái cơ cấu Vinashin trị giá 627 triệu USD…

Tổng số vốn vay nước ngoài được bảo lãnh Chính phủ giải ngân trong năm 2013 là 52.340 tỷ đồng, tăng 10% so với năm 2012, Bộ trưởng Dũng cho biết. 

Vẫn theo báo cáo, tổng trị giá vốn vay được bảo lãnh Chính phủ đang có xu hướng tăng nhanh, năm sau cao hơn năm trước và đạt mức tăng bình quân gần 50%/năm.

Phần chi trả nợ của Chính phủ trong cân đối ngân sách năm 2013 ước đạt 103.700 tỷ đồng, theo Chính phủ vẫn đảm bảo trong giới hạn quy định của Việt Nam là dưới 25% thu ngân sách nhà nước và nằm trong giới hạn an toàn theo thông lệ quốc tế. 

Vay để đảo một phần nợ

Kế hoạch huy động và sử dụng vốn vay trong 2014 cũng được Chính phủ báo cáo với Quốc hội. 

Cụ thể vay trong nước 367.000 tỷ đồng, trong đó để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước là 197.000 tỷ đồng, phát hành trái phiếu cho đầu tư là 100.000 tỷ đồng và đảo nợ khoảng 70.000 tỷ đồng.

Rút vốn vay ODA, vay ưu đãi và vay thương mại nước ngoài của Chính phủ trên cơ sở các hiệp định vay đã ký, dự kiến 4.520 triệu USD, tương đương 95.800 tỷ đồng, báo cáo cập nhật.

Hạn mức vay trong nước được Chính phủ bảo lãnh tối đa là 70.492 tỷ đồng, còn hạn mức vay thương mại nước ngoài của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng được Chính phủ bảo lãnh là 2.800 triệu USD, báo cáo cho hay.

Liên quan đến nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ năm 2014, báo cáo cho biết con số là 208.883 tỷ đồng, bao gồm: trả nợ trong nước 159.683 tỷ đồng và trả nợ nước ngoài 49.200 tỷ đồng.

Theo Bộ trưởng Dũng thì Việt Nam đã thực hiện vay mới để đảo một phần nghĩa vụ nợ đến hạn năm 2014, chủ yếu là đảo nợ gốc đối với các khoản trái phiếu chính phủ trong nước để xử lý rủi ro tái cấp vốn do kỳ hạn trái phiếu ngắn. 

Một khó khăn được Chính phủ nhìn nhận là dư nợ công tăng nhanh qua các năm. So với năm liền trước thì dư nợ công năm 2011 tăng 24,8%, năm 2012 tăng 17%, và năm 2013 tăng 17,4%.

Trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này có việc huy động và sử dụng vốn vay chưa hợp lý, phân bổ sử dụng vốn vay còn dàn trải và tập trung vào việc tăng quy mô mà chưa đề cao hiệu quả. 

Hiện nay, vốn vay chủ yếu là để bổ sung cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ngày càng gia tăng, chiếm khoảng 30% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, song hiệu quả đầu tư chưa cao (ICOR năm 2013 ở mức 5,62), Bộ Tài chính phân tích.

Mặt khác, trong thời gian gần đây, xu hướng dự án được Chính phủ bảo lãnh/cho vay lại gặp khó khăn trả nợ gia tăng, làm tăng nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ, đồng thời tiếp tục tạo ra tâm lý dựa dẫm vào sự bảo đảm của ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp được bảo lãnh.

Con số cụ thể là quỹ tích luỹ trả nợ phải ứng ra trả thay cho các dự án có xu hướng tăng lên trong các năm gần đây, năm 2010 là 1.676 tỷ đồng; năm 2011 là 2.437 tỷ đồng; năm 2012 là 2.588 tỷ đồng và năm 2013 là 3.072 tỷ đồng.

Ngoài ra, hiện nay Việt Nam đã bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình thấp, nên huy động vốn vay ODA đang có xu hướng giảm dần với thời hạn ngắn hơn, lãi suất cho vay tăng lên dẫn đến nghĩa vụ trả nợ công, nợ Chính phủ có xu hướng gia tăng.

Tuy vậy, Chính phủ khẳng định, công tác quản lý nợ công, nợ Chính phủ và nợ nước ngoài của quốc gia đã được tăng cường, ngày càng tốt hơn, dần tiếp cận với các thông lệ tốt trên thế giới.

Kết thúc báo cáo, Chính phủ hứa sẽ tiếp tục tăng cường tính minh bạch, công khai thông tin về nợ công, rút ngắn thời gian thu thập số liệu, báo cáo và công bố thông tin nợ công trong thời gian tới.

Theo Vneconomy:
http://vneconomy.vn/20140603092417748P0C9920/no-cong-quoc-hoi-lo-lang-chinh-phu-noi-gi.htm

 

Luôn khẳng định nợ công vẫn nằm trong giới hạn an toàn, Chính phủ rất ít khi biểu lộ lo lắng về vấn đề này tại các bản báo cáo trình Quốc hội.

Báo cáo gần đây nhất thì khác. 

Hoàn thành ngày 24/4/2014, bản báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh ký vẫn được một số thành viên của Ủy ban Kinh tế Quốc hội - cơ quan thẩm tra báo cáo - cho là quá lạc quan.

Về tổng thể, có thể là như thế. Nhưng ở từng câu chữ đã thấy rõ hơn những lo lắng. 

“Nợ công tuy vẫn nằm trong giới hạn an toàn, nhưng trên thực tế khả năng huy động và trả nợ rất khó khăn”, phần tồn tại hạn chế tại báo cáo nêu rõ.

Nửa năm trước, tại kỳ họp thứ 6 của Quốc hội, báo cáo của Chính phủ vẫn có một khẳng định quen thuộc: “Nợ chính phủ, nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn an toàn”.

Con số được nêu tại báo cáo khi ấy là, đến cuối năm 2013, dư nợ công ước khoảng 56,2% GDP, dư nợ Chính phủ khoảng 42,6% GDP, dư nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 39,5% GDP.

Thế nhưng, hai chữ an toàn dường như chưa mang lại sự an tâm.

Nợ công có lẽ sẽ là tâm điểm của nhiều cuộc tranh luận về an ninh tài chính quốc gia trong năm 2014, bởi con số thực của nợ công là bao nhiêu, đâu là ngưỡng an toàn vẫn là câu hỏi ngỏ. 
Nhận định này của một chuyên gia trên VnEconomy vào ngày cuối cùng của năm 2013 dường như đã được khẳng định chắc chắn hơn, sau bốn tháng đầu năm 2014.

Vào ngày 28/4, tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 204 mà theo nhận xét của TS. Lê Đăng Doanh là “một diễn đàn có chất lượng nhất ở Việt Nam hiện nay về tinh thần khoa học, gắn bó với thực tiễn, trung thực, thẳng thắn và xây dựng”, nguy cơ từ nợ công đã lại được đặt ra.

Cùng với nợ xấu, TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng quan niệm về nợ công chưa thực sự rõ ràng, còn nhiều điểm khác với quốc tế, số liệu về nợ là đang khác nhau, sai số quá lớn và chuẩn mực đo không thống nhất. Mặt khác, quy mô nợ lớn và xu hướng gia tăng là nhanh. 

“Dường như chúng ta có xu hướng đánh giá thấp nguy cơ của nợ công hơn thực tế”, ông Thiên chỉ ra nguy cơ của nguy cơ về nợ công.

Trở lại ba chữ “rất khó khăn” của Bộ trưởng Vinh tại báo cáo sẽ trình Quốc hội. Để nói rõ hơn cho nhận định này, bản báo cáo cung cấp thêm khá nhiều thông tin. Đó là khối lượng huy động vốn trái phiếu  Chính phủ rất lớn, bình quân khoảng trên 400 nghìn tỷ đồng/năm trong ba năm tới, bằng khoảng 8-9% GDP, bao gồm huy động để bù đắp bội chi, đảo nợ và để đầu tư. Trong khi việc huy động trong nước chủ yếu là vay ngắn hạn và trung hạn chiếm tới 80%, vay dài hạn chỉ chiếm 20%, dẫn đến tần suất, mức trả nợ sẽ rất cao.

Mặt khác, việc huy động hoàn toàn phụ thuộc vào các định chế tài chính như ngân hàng thương mại chiếm 86%, các định chế tài chính khác chiếm 12%, có thể sẽ dẫn đến việc dòng tiền của hệ thống ngân hàng chỉ tập trung vào trái phiếu mà thu hẹp đầu tư vào sản xuất kinh doanh, Chính phủ nhìn nhận.

Phân tích tiếp theo được báo cáo nêu là trong 2013, lãi suất thị  trường ít chịu tác động của việc phát hành trái phiếu Chính phủ do đầu ra tín dụng cho sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, việc phát hành lượng trái phiếu Chính phủ quy mô lớn sẽ có nhiều tác động tiêu cực đén mặt bằng lãi suất và chi phí vốn vay của doanh nghiệp, cũng như lạm phát trong năm 2014 và các năm tiếp theo.

Bản báo cáo chứa đựng những kiến giải nêu trên đã đến tay các thành viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội vào chiều 29/4, ở phiên họp toàn thể chuẩn bị báo cáo thẩm tra tình hình kinh tế - xã hội trình Quốc hội tại kỳ họp tới.

Nhưng, trước đó một ngày, TS. Trần Du Lịch, Ủy viên Ủy ban Kinh tế, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia đã nhận định “nợ công không phải nhẹ nhàng như ta hiểu, đặc biệt tỷ lệ nợ phải trả so với thu ngân sách”.

Đại biểu Lịch đề nghị Ủy ban Kinh tế kiến nghị Quốc hội tại kỳ họp thứ 7 sẽ khai mạc vào ngày 20/5 tới cần có phiên thảo luận riêng để bàn lại về nợ công.

“Không thể cứ nói là an toàn, phải bàn lại xem thực chất nợ công là thế nào, đặc biệt là nợ trung hạn, nếu không khéo khi nợ dài hạn đến hạn trả là không chịu nổi”, ông Lịch nhấn mạnh.

Theo Vneconomy:
http://vneconomy.vn/20140504120133472P0C9920/no-cong-viet-nam-kha-nang-tra-no-rat-kho-khan.htm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét