Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2014

Nhà giàu, quan chức mua nhà nước ngoài, qua Mỹ sinh con

      Rất nhiều quan chức và giới nhà giàu Trung Quốc trong khoảng hai năm gần đây đổ hàng chục tỷ USD để mua bất động sản ở nước ngoài như một lựa chọn trong tình hình mới.

Đắt không ngán
Tờ báo WantChinaTimes hôm 11/8 cho biết, tập đoàn giải trí và bất động Dalian Wanda của tỷ phú giàu nhất Trung Quốc trong phần lớn thời gian năm 2013 là Wang Jianlin đã đánh bại 10 đối thủ đến từ Bắc Mỹ và châu Á trong cuộc đấu giá một lô đất 32.000 m2 ở Beverly Hills, Los Angeles. Theo đó, tập đoàn này sẽ đầu tư 1,2 tỷ USD vào đây để thâm nhập Hollywood.
Vị trí của lô đất được được cho là rất đẹp do chỉ cách Hollywood khoảng 10 phút lái xe và rất gần các địa điểm nổi tiếng khác như Los Angeles Country Club, the Peninsula, Waldolf Astoria hotel, El Rodeo School và the Beverly Hills High School.
Tính từ đầu năm tới nay, tỷ phú vừa bị ông chủ cỗ máy tìm kiếm Baidu Robin Li đẩy xuống vị trí người giàu thứ hai Trung Quốc này đã đầu tư rất nhiều vào BĐS trên khắp thế giới, bao gồm: 900 triệu USD cho một tổ hợp nhà ở-khách sạn 5 sao tại Chicago và một cái 1,2 tỷ USD ở trung tâm London; bỏ 355 triệu USD mua Madrid's landmark Edificio Espana ở Tây Ban Nha và 537 triệu USD mua hãng sản xuất du thuyền Anh Sunseeker International.
Wang Jianlin cũng đã tuyên bố sẽ xây các khách sạn 5 năm sao ở 12 cho đến 15 thành phố lớn nhất trên khắp thế giới và xây dựng Wanda trở thành thương hiệu khách sạn quốc tế cao cấp trong khoảng thời gian từ giờ cho tới 2020.
{keywords}
Rất nhiều quan chức và giới nhà giàu Trung Quốc trong khoảng hai năm gần đây đổ hàng chục tỷ USD để mua bất động sản ở nước ngoài
Hiện tượng doanh nghiệp và người giàu Trung Quốc đầu tư vào bất động sản ở nước ngoài trong đó nổi bật là Mỹ, Australia, Canada, Anh nổi lên như vũ bão trong khoảng 2 năm gần đây và giờ đã trở nên quen thuộc. Làn sóng này đang ngày càng lớn dần.
Tại Mỹ, thậm chí một số báo cáo cho rằng xu hướng người Hoa đổ tiền mua BĐS nước này, nhất là các bang như California, Washington, New York, Miami và Los Angeles sẽ lớn như sóng thần quét qua.
Chỉ tính các thương vụ mua bán nhà đất của người dân Trung Quốc, hồi đầu tháng 7, Hiệp hội Giới chủ BĐS quốc gia Mỹ (NAR) đưa ra một khảo sát cho thấy, trong vòng một năm kể từ tháng 3/2013, tổng số tiền mà người Hoa chi ra để mua nhà đất ở Mỹ tăng 72% so với cùng kỳ lên tới 22 tỷ USD.
Một điểm nổi bật là giá trị trung bình các thương vụ mua bán BĐS của người Trung Quốc tại Mỹ rất cao, vượt trội, ở mức 590.000 USD/1 BĐS và chủ yếu được thanh toán bằng tiền mặt. NAR cho biết, có khoảng một nửa mua để sinh sống lâu dài và nửa còn lại là để đầu tư hoặc kinh doanh.
Không chỉ ở Mỹ, nhà giàu Trung Quốc còn săn lùng BĐS ở rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trong đó có Đài Loan. Theo Reuters, thị trường BĐS Taipei đã tăng 200% kể từ khi mở cửa cho dòng tiền từ Trung Quốc vào thị trường này cho dù Đài Loan chỉ cho phép bán 400 căn hộ cho người đại lục mỗi năm. Cơn khát BĐS Đài Loan đã khiến nhiều DN môi giới giúp người Bắc Kinh mua chui BĐS Đài Loan.
Tìm đất chôn cất tài sản
Có một thực tế là, giống như ở một số nước châu Á khác, người dân Trung Quốc có xu hướng ưa chuộng đầu tư vào BĐS vừa để cất giữ tài sản, vừa để sinh lời.
{keywords}
Người dân Trung Quốc có xu hướng ưa chuộng đầu tư vào BĐS vừa để cất giữ tài sản, vừa để sinh lời.
Tuy nhiên, thị trường BĐS Trung Quốc trong thời gian gần đây liên tục bị cảnh báo đang ở mức nguy hiểm do giá đã tăng cao trong cả thập kỷ qua. Giá BĐS nhiều thành phố lớn trên thế giới như New York, trong khi đó, lại cũng chỉ bằng phân nửa ở Bắc Kinh, Thượng Hải.
Bên cạnh đó, theo Wall Street Journal, chiến dịch diệt tham nhũng của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng khiến cho dòng tiền chảy vào BĐS nước này bị chững lại.
Tờ báo National Post của Canada hôm 15/7 thậm chí cho rằng, người giàu Trung Quốc đang ngày càng có xu hướng ra khỏi đất nước với một minh chứng rằng đã có khoảng 9,3 triệu người đã di cư và hơn 60% số nhà giàu còn ở lại cũng muốn ra đi. Trong các địa điểm đến, Mỹ là lựa chọn số một.
Trước đó, một làn sóng cũng khiến chính quyền Mỹ đau đầu là "du lịch sinh con" của phụ nữ giàu có Trung Quốc. Theo đó, trong năm 2013, đã có ít nhất 10.000 em bé Trung Quốc đã chào đời ở Mỹ theo phong trào sinh con mang quốc tịch Mỹ này cho dù chi phí cho lên tới 30.000 USD.
Phong trào ra nước ngoài mua nhà của giới nhà giàu Trung Quốc đang trở nên rậm rộ hơn khi các đại gia người Hoa đã qua mặt người Nga chiếm vị trí đầu bảng trong việc rót tiền mua BĐS tại Mỹ trong quý I/2014.
Làn sóng chuyển tiền ra nước ngoài của giới nhà giàu khiến Bắc Kinh e ngại và thiết lập nhiều quy định, rào cản. Tuy nhiên, dường như các biện pháp như cấm công dân mua tài sản ở nước ngoài và hạn chế người dân không cho chuyển quá 50.000 USD/năm ra nước ngoài không ngăn chặn được tình trạng này.
Theo National Post, giới nhà giàu Trung Quốc vẫn mua BĐS từ Sydney, Vancouver cho tới London rồi New York với rất nhiều người mua những căn hộ trị giá vài triệu USD như trường hợp một phụ nữ người Hoa bỏ 6,5 triệu USD mua căn hộ 2 phòng ngủ trong toà nhà chung cư One57 cao nhất New York trong năm 2013 vừa qua...
Bên cạnh Mỹ, Australia, Canada, Anh và New Zealand... cũng là các nơi thu hút giới nhà giàu Trung Quốc tới mua BĐS. Các doanh nghiệp ở các nước này, tất nhiên, cũng không ngần ngại phục vụ nhu cầu này. Thậm chí chính các doanh nhân Trung Quốc, trong đó có tỷ phú giàu nhất Hong Kong Li Ka Shing, cũng tham gia vào xây dựng căn hộ cao cấp ở nước ngoài cho người giàu có Trung Quốc.
Làn sóng đổ tiền vào BĐS nước ngoài cũng như di cư của giới nhà giàu Trung Quốc được giải thích với rất nhiều lý do: từ sự giàu có lên nhanh chóng của một lớp người, cho tới các yếu tố và môi trường, văn hóa, chính trị... Cũng theo National Post, mỗi năm, người Trung Quốc chuyển ra nước ngoài hơn 1.000 tỷ USD.
Theo Vef:
http://vef.vn/tranh-luan-online/2014-08-20-trung-quoc-nha-giau-quan-chuc-mua-nha-nuoc-ngoai-qua-my-sinh-con-

Có tý lãi, ngân hàng phải gánh thêm nợ xấu

Đều đều báo lãi
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa công bố báo cáo lợi nhuận quý II/2014. Theo đó, lợi nhuận sau thuế quý này của riêng BIDV đạt gần 506 tỷ đồng và hợp nhất đạt 427 tỷ đồng. Tính chung 6 tháng đầu năm 2014, BIDV vẫn đảm bảo lợi nhuận sau thuế tương đương kết quả cùng kỳ 2013 và đạt trên 40% kế hoạch.
Theo giải thích của ngân hàng này, lợi nhuận quý II giảm là do tăng chi phí hoạt động và BIDV đã chủ động tăng trích lập dự phòng rủi ro. Bên cạnh đó, BIDV đang khẩn trương và nỗ lực tập trung nâng cao năng lực quản trị rủi ro theo chuẩn Basel II, thực hiện tái cơ cấu và đáp ứng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB) trong khi đó cho biết lợi nhuận sau thuế trong quý II tăng hơn 31% so với cùng kỳ năm trước lên 185 tỷ đồng. Tính chung trong 6 tháng, lợi nhuận sau thuế tăng hơn 32% lên trên 400 tỷ đồng.

{keywords}
Hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng rất ít khi phải chịu lỗ, các ông chủ dường như không chịu rủi ro mất hay hao hụt vốn
Ngân hàng Quân đội (MBB) ghi nhận gần 1.340 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế trong quý II, giảm nhẹ 1,5% so với cùng kỳ năm trước cho dù phải tăng mạnh dự phòng rủi ro.
Ngân hàng VietinBank (CTG) dù gặp khó khăn với tăng trưởng tín dụng nhưng lợi nhuận sau thuế trong 6 tháng đầu năm chỉ giảm nhẹ 3% so với cùng kỳ xuống hơn 3.000 tỷ đồng.
Báo cáo hợp nhất của Vietcombank (VCB) cũng cho thấy trong quý II/2012 lợi nhuận tăng 22,3% lên gần 1.060 tỷ đồng và 6 tháng tăng 12,5% lên trên 2.220 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước.
Nhìn chung trong quý II và 6 tháng đầu năm 2014, hàng loạt các ngân hàng vẫn đạt lợi nhuận ở mức cao gần bằng, thậm chí hơn so với cùng kỳ năm trước.
Nhiều ngân hàng gặp nhiều xáo trộn thời gian vừa qua vẫn có kết quả không tệ như: Techcombank 6 tháng đạt 80% kế hoạch năm; Sacombank quý II tăng 34% so với cùng kỳ; Ngân hàng ACB bị ảnh hưởng bởi vụ bầu Kiên và Huyền Như nhưng lợi nhuận trong 6 tháng chỉ giảm 20% và vẫn đạt hơn 570 tỷ đồng...
Xử lý nợ xấu: Chặng đường còn dài
Cũng như trong cả năm ngoái, 6 tháng đầu năm 2014 là giai đoạn mà hầu hết các ngân hàng thương mại nội thực hiện quyết liệt các biện pháp để giảm nợ xấu. Hàng loạt các biện pháp đã được đề ra như tăng cường trích lập dự phòng, bán cho công ty mua bán nợ VAMC, hạn chế cho vay... Tuy nhiên, xử lý nợ xấu xem ra là một chặng đường dài, trước mặt nợ xấu dường như không suy giảm mà gần đây có dấu hiệu tiếp tục gia tăng.
{keywords}
Tuy nhiên, điểm nổi bật nhất của hệ thống ngân hàng trong thời kỳ này có lẽ là hiện tượng gia tăng bất thường của nợ xấu tại hầu hết các ngân hàng
Báo của VietinBank cho thấy, trong vòng 6 tháng qua, nợ xấu tại ngân hàng này tăng khoảng 150% từ khoảng 3.770 tỷ đồng cuối 2013 lên gần 9.600 tỷ đồng vào cuối tháng 6/2014. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn tăng hơn 40% lên gần 3.200 tỷ đồng.
Nhiều ngân hàng vốn có truyền thống duy trì được tỷ lệ nợ xấu thấp trong các năm gần đây đều đã chứng kiến nợ xấu vượt tỷ lệ vốn được coi là tương an toàn 3% của NHNN khi tính tới cuối quý II vừa qua như: Vietcombank (3,09%); Quân Đội (3,1%); ACB (3,6%)...Riêng Vietcombank, nợ xấu tổng cộng là hơn 9.030 tỷ đồng, trong đó nợ có khả năng mất vốn tăng gần 71% trong 6 tháng lên gần 4.770 tỷ đồng.
Theo quy định mới của Ngân hàng Nhà nước thì đối với Cho vay, tài khoản Dư nợ chỉ được phân thành hai loại là Nợ trong hạn và Nợ quá hạn, trong đó Nợ quá hạn bao gồm Nợ cần chú ý, Nợ dưới tiêu chuẩn, Nợ nghi ngờ và Nợ có khả năng mất vốn.
Tổng Dư nợ của SHB đến hết 30/6/2014 theo Báo cáo tài chính Hợp nhất là 91.479.453.964.042 đồng. Trong đó, tỷ lệ Nợ quá hạn Quý II/2014 là 8.17%. Tỷ lệ nợ xấu Quý II/2014 là 4%.
Ttrong khi đó, một số ngân hàng thậm chí còn chứng kiến nợ xấu vượt trên 5% so với con số dưới 4% vào cuối năm.
Có thể thấy, trong 6 tháng đầu năm 2014, trừ PGBank lỗ nhẹ trong quý II, các ngân hàng khác đều duy trì được lợi nhuận khá tốt cho dù nền kinh tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Một số ngân hàng thậm chí còn chứng kiến lợi nhuận tăng 30-40% so với cùng kỳ. Có ngân hàng đã đạt được 2/3 kế hoạch đề ra...
Tuy nhiên, điểm nổi bật nhất của hệ thống ngân hàng trong thời kỳ này có lẽ là hiện tượng gia tăng bất thường của nợ xấu tại hầu hết các ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu gia tăng mạnh dường như không chừa một ngân hàng loại nào, từ nhóm 1 cho tới nhóm 4, từ tốt cho tới yếu kém phải tái cơ cấu...
Như vậy, có thể thấy, nợ xấu của hệ thống vẫn đang nằm trong xu hướng tăng lên theo chính sách quản lý chặt chẽ sát sao hơn của NHNN.
Các ngân hàng vẫn tạo ra lợi nhuận nhờ chênh lệch giữa lãi huy động và lãi cho vay khá cao, khoảng 3-4%, thu từ dịch vụ cũng đang gia tăng lên. Tuy nhiên, bài toán khó giải nợ xấu có lẽ là câu chuyện dài kỳ, phải từ từ tìm cách, không thể giải quyết trong một sớm một chiều. Hiện tượng chuyển nợ vòng quanh hay cắt một phần lợi nhuận nhỏ nhoi để bù đắp cho nợ xấu xem ra có thể khiến quá trình cơ cấu kéo dài.
Tất cả có thể thay đổi, có thể ra đi nhưng nợ xấu luôn là cái còn lại ở đó, không thể biến hình thành cái khác được.
Theo Vef:
http://vef.vn/diem-nong/2014-08-18-co-ty-lai-ngan-hang-phai-ganh-them-no-xau-

Viettel Telecom bị tố lén "móc túi" thuê bao

Viettel Telecom bị tố lén "móc túi" thuê bao

Các thuê bao của Viettel đang rất hoang mang và bức xúc trước thông tin nhà mạng này tự ý cài sẵn dịch vụ đọc sách Anybook vào điện thoại mà không hề thông báo tới khách hàng.
Viettel, tin nhắn flash, Anybook
Tin nhắn trả lại từ Tổng đài Viettel khi khách hàng nhắn tin hủy dịch vụ. Nguồn: baophapluat.vn
Điều khiến họ bức xúc nhất là dịch vụ này thu cước 9000 đồng/tháng, nhưng tất nhiên là người dùng cũng không hề hay biết. Sự tồn tại của Anybook, một dịch vụ có cái tên lạ lẫm với phần đa thuê bao Viettel, chỉ được biết đến sau khi một số người dùng phản ánh về việc họ nhận được tin nhắn trả về từ Tổng đài Viettel với nội dung :"Quý khách đã hủy thành công gói cước DEFAULT của dịch vụ Anybook. Để đăng ký dịch vụ, soạn: DK gửi 2828 (9.000 đồng/tháng). De huong dan ve dich vu, soan HD gui 2828…” khi nhắn tin hủy dịch vụ với cú pháp HUY gửi 2828.
Câu hỏi phải chăng nhà mạng đang lén lút rút ruột thuê bao, bởi người dùng không hề đăng ký sử dụng dịch vụ này cũng như cài đặt dịch vụ vào máy. Số tiền 9000 đồng/tháng/người có thể không lớn, nhưng nếu nhân lên với số lượng thuê bao khủng nhất thị trường hiện nay của Viettel thì lại không hề nhỏ.
Để xoa dịu dư luận, Viettel Telecom đã nhanh chóng đưa ra lời trần tình trên trang web chính thức của nhà mạng này, theo đó, vào tháng 5/2014, họ triển khai dịch vụ Anybook cho một nhóm khách hàng mà không thu phí. Với Anybook, thuê bao sẽ được cung cấp sách, truyện, tạp chí, tài liệu... qua điện thoại di động.
Viettel Telecom giải thích rằng, do đặc tính kỹ thuật của dịch vụ, khách hàng muốn lưu và đọc các nội dung này sẽ cần phải có 1 tài khoản trên hệ thống, vì vậy dịch vụ mặc định nhóm khách hàng được hưởng ưu đãi là thuê bao Anybook (sử dụng gói cước 0 đồng). Đồng thời, Viettel cũng mặc định trên hệ thống tất cả các khách hàng chưa đăng ký dịch vụ Anybook là thuê bao gói cước 0 đồng.

"Trong cả hai trường hợp nêu trên, trước ngày 21/8 khi khách hàng nhắn tin Huy lên đầu số 2828 thì hệ thống đều trả tin với nội dung thông báo khách hàng đã hủy thành công dịch vụ Anybook", Viettel cho biết. Nhà mạng này trần tình rằng nội dung tin nhắn trả về có thể gây hiểm nhiều là Viettel tự kích hoạt dịch vụ và trừ cước nên đã... sửa lại nội dung thành "“Quy khach chua dang ky dich vu Anybook. De dang ky dich vu, soan: DK gui 2828 (9.000d/thang). De duoc huong dan ve dich vu, soan: HD gui 2828....”.
Vụ việc xảy ra khi chỉ mới cách đây vài tuần, đoàn kiểm tra của Cục Viễn thông (Bộ TT&TT) và Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) đã tiến hành kiểm tra hoạt động cung cấp dịch vụ nội dung qua tin nhắn di động tại 4 doanh nghiệp là Viettel, VinaPhone, MobiFone và Vietnamobile. Kết quả kiểm tra cho thấy, trong khi VinaPhone và MobiFone đã chấn chỉnh dịch vụ tin nhắn flash của mình để đáp ứng gần như tất cả các quy định do Bộ TT&TT đưa ra, thì Viettel và Vietnamobile vẫn giậm chân tại chỗ.
Cụ thể, ngoại trừ việc mới chấn chỉnh được một điểm duy nhất là cho khách hàng quyền kích hoạt dịch vụ (Nếu như trước đây, người dùng hai mạng này cứ lắp SIM vào là dịch vụ đã tự kích hoạt, tin nhắn flash đã tự gửi đến mà không cho quyền từ chối hay tiếp tục sử dụng thì nay, doanh nghiệp đã sửa được điểm này), còn lại tất cả các yêu cầu khác của cơ quan quản lý đều không được đáp ứng như người dùng không được quyền từ chối sử dụng dịch vụ, thông báo cước không rõ ràng, chỗ đề đơn vị là đồng, chỗ đơn vị là nghìn. Cũng chính vì thế mà đoàn không kiểm tra được việc trừ cước có chính xác hay không.
Sau cuộc kiểm tra, phía Viettel đã cam kết sẽ xử lý dứt điểm các vi phạm trước ngày 20/10. Tuy nhiên, có vẻ như vụ việc Anybook là một trường hợp nữa cho thấy sự thiếu rõ ràng trong hoạt động cung cấp dịch vụ nội dung qua tin nhắn của Viettel. Liên quan đến vấn đề này, Thứ trưởng Bộ TT&TT Lê Nam Thắng từng nhấn mạnh rằng, doanh nghiệp cần tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của Bộ: nêu rõ tên dịch vụ, nội dung cung cấp và đặc biệt là giá cước bên trong tin nhắn gửi đến cho các thuê bao, thay vì mập mờ kiểu "giá cước đã được niêm yết trên website" như trước đây. Đồng thời, người dùng cần được thông báo về sự tồn tại của dịch vụ, cũng như có quyền lựa chọn đồng ý sử dụng hay từ chối dịch vụ đó một cách rõ ràng.
Theo Vietnamnet:
http://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe-thong-tin-vien-thong/193852/viettel-telecom-bi-to-len--moc-tui--thue-bao.html

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

Những điều 'không giống ai' ở Việt Nam

       Không chỉ ở cách tính GDP, chúng ta cần phải thay đổi tư duy trong nhiều lĩnh vực khác nhằm đạt tiêu chuẩn quốc tế, chứ không thể mãi đi theo những cách làm... chẳng giống ai.

Cách tính GDP không giống ai...

Tại hội nghị toàn ngành Kế hoạch và đầu tư ngày 7/8 tại Đà Nẵng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói: "Cách tính GDP ở các địa phương hiện nay không sát thực tế và so với quốc tế, không giống ai". Câu nói khiến cả hội nghị râm ran tiếng cười như một cách thể hiện sự  đồng tình, thừa nhận của số đông lãnh đạo nhiều địa phương về cách tính GDP không hợp lý, không theo chuẩn mực quốc tế ở hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Điều này đã được các chuyên gia kinh tế cảnh báo và lần đầu tiên người đứng đầu Chính phủ nêu và yêu cầu cụ thể các địa phương phải có cách tính lại GDP cho sát với thực tế, theo chuẩn mực quốc tế, với sự hướng dẫn của Tổng cục Thống kê.
Và theo thông lệ, sau hội nghị, một  thông báo, văn bản cụ thể của Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến của Thủ tướng về nội dung trên sẽ là thành chỉ đạo chính thức, buộc các địa phương chấm dứt cách tính GDP "chẳng giống ai" như lâu nay vẫn làm.
Cách làm "không giống ai" đó đã được nhận biết do việc tính sai, tính trùng các số liệu... để lấy thành tích ở các địa phương. Và hậu quả của nó có thể dẫn tới những định hướng phát triển Kinh tế - Xã hội sai lệch như Bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư Bùi Quang Vinh đã phân tích.
Cho nên, từ lâu, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Tiền tệ quốc tế (IMF)... đã không dựa vào số liệu GDP của VN, mà thường tính toán theo chuẩn mực đã được thế giới công nhận. Và các chỉ số GDP do WB, IMF tính toán, thường thấp hơn chỉ số GDP mà Việt Nam công bố.
Hệ lụy của cách tính "không giống ai" đó đến nay vẫn hiển hiện trên nhiều mặt: các địa phương vẫn đua nhau xin, tăng đầu tư công để đạt GDP cao. Và đó là một trong các nguyên nhân dẫn đến lãng phí, hiệu quả đầu tư thấp, làm tăng bội chi, nợ công... Tài nguyên đất đai, khoáng sản bị khai thác quá mức.
GDP, Việt Nam, tụt hậu, địa phương, thủ tướng chính phủ
Ảnh minh họa
...và không chỉ GDP
Nhưng không chỉ có chỉ số GDP mà trên nhiều lĩnh vực kinh tế, khoa học, giáo dục khác ở VN cũng còn rất nhiều cách tính, cách làm "không giống ai" như vậy.
Trong ngành tài chính, lãnh đạo Bộ này vừa qua cũng đã thừa nhận có nhiều thủ tục, quy định về thuế, hải quan, bảo hiểm không đúng chuẩn mực quốc tế dẫn đến kéo dài thời gian nộp thuế của doanh nghiệp đến mức kỷ lục: 872 giờ nộp thuế/năm - một yếu tố kéo lùi  đến gần chót bảng về thứ bậc xếp hạng môi trường cạnh tranh của VN.
Kiểm toán Nhà nước cũng đã thừa nhận, có những chuẩn mực kiểm toán của VN chưa đạt chuẩn mực quốc tế. Trong lĩnh vực đào tạo, cách thức đào tạo, cấp bằng tiến sĩ... của VN cũng chưa được công nhận đạt tiêu chuẩn quốc tế...
Tất cả những cách làm "khác người", không đạt tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế như vậy vẫn đang khiến không ít lĩnh vực ở Việt Nam bị tụt hậu, kém xa trình độ phát triển của nhiều nước. Đành rằng, mỗi nước cũng có những đặc thù, có những cách làm khác nhau để thúc đẩy, phát triển kinh tế-xã hội nhưng phải là những cách làm hay, khoa học để đạt được những tiến bộ mới. Còn những cách làm "không giống ai" ở VN, như cách tính GDP hiện nay của các địa phương là những cách làm không đúng, làm sai, làm trái để lấy thành tích... là những cách làm kéo lùi sự phát triển.
Mong rằng, qua phát biểu của Thủ tướng, một chỉ thị, văn bản pháp quy buộc việc tính GDP từ nay phải theo thông lệ quốc tế và  đây là bắt đầu một bước ngoặt cho tiếp cận về tăng trưởng ở Việt Nam, từ bỏ những giả tạo, trở về với những số liệu có căn cứ, chuyển sang những thước đo thực tế và chính sách phát triển có hiệu quả hơn.
Và không chỉ ở cách tính GDP, những việc như phong tặng giáo sư, tiến sĩ, trong việc đào tạo, giáo dục, trong xây dựng, trong các tiêu chí về kế toán, kiểm toán... cũng phải nâng cao, để đạt tiêu chuẩn quốc tế, chứ không thể mãi đi theo những cách làm... chẳng giống ai.

Theo Vietnamnet:
http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/191837/nhung-dieu--khong-giong-ai--o-viet-nam.html

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2014

"Việt Nam dứt khoát không để vỡ nợ"?

Đó là tuyên bố của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng chiều 7/8 khi đề cập đến vấn đề nguồn vốn cho đầu tư công trung hạn tại hội nghị toàn quốc ngành KH-ĐT đang diễn ra tại Đà Nẵng.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại hội nghị toàn quốc ngành KH-ĐT đang diễn ra tại Đà Nẵng. (Ảnh: HC).
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại hội nghị toàn quốc ngành KH-ĐT đang diễn ra tại Đà Nẵng. (Ảnh: HC).
Khắc phục tình trạng hàng năm phải xin
Tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ rõ, xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2016 – 2020 là hết sức quan trọng và việc triển khai trong thời điểm này là cần thiết, kịp thời, chủ động để chuẩn bị cho Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12.
Về kế hoạch đầu tư công trung hạn, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết, thời gian qua đã thực hiện có kết quả bước đầu, đem lại nhiều lợi ích mà quan trọng nhất là các tỉnh, các bộ, ngành biết số vốn được phân bổ từ ngân sách hoặc trái phiếu để lựa chọn danh mục các dự án quan trọng, ưu tiên đưa vào kế hoạch, chủ động chuẩn bị đầu tư, tránh tình trạng đầu tư tràn lan, dàn trải lâu nay nói rất nhiều những không khắc phục được.
Khi xây dựng kế hoạch 5 năm 2016 – 2020, từ TƯ đến các tỉnh, thành phải căn cứ cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ và chiến lược phát triển KT-XH 10 năm (2011 – 2020) mà Đại hội 11 của Đảng đã thông qua cùng các Nghị quyết chuyên đề của TƯ. 
Đồng thời căn cứ kết quả phát triển KT-XH 5 năm 2011 – 2015 được đánh giá một cách thẳng thắn, khách quan, toàn diện cả thành tựu lẫn hạn chế, yếu kém để rút ra bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, quản lý, điều hành. Không đề ra kế hoạch không có căn cứ để khi kiểm điểm lại nói lý do này, lý do khác. Đồng thời phải nâng cao chất lượng dự báo bối cảnh quốc tế và trong nước để chủ động tính toán kế hoạch.
“Cách làm này cũng khắc phục được tình trạng hàng năm phải xin. Gần cuối năm là Bộ KH-ĐT, Bộ Tài chính không có chỗ để tiếp đón các tỉnh, các Bộ khác. Cũng một dự án đó nhưng kết thúc năm, chuyển qua năm mới thì phải xin vốn mới bổ sung. Rất phiền hà, tốn thời gian, chưa nói còn đẻ ra chuyện này, chuyện khác. 
Tinh thần là triển khai đầu tư trung hạn từ cấp TƯ, cấp tỉnh đến quận, huyện, cơ sở để làm sao đầu tư công hiệu quả, chất lượng hơn, khắc phục được đầu tư dàn trải, khắc phục được những thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp, tiêu cực” – Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh.
Dứt khoát không để vỡ nợ!
Thủ tướng cũng nêu rõ, để triển khai đầu tư công trung hạn thì nguồn vốn cũng phải trung hạn. Trước hết, TƯ và các tỉnh, thành phải bố trí đầu tư ngân sách trung hạn vào những khâu đột phá để tạo điều kiện cho phát triển. “Tôi đã làm việc với Bộ trưởng Tài chính, bây giờ chúng ta phải thực hiện theo Luật Ngân sách hiện hành, nhưng sắp tới sửa Luật Ngân sách cũng phải tính kế hoạch trung hạn trong chi đầu tư của ngân sách theo hướng năm sau cao hơn năm trước 10%” – Thủ tướng cho hay.
Bên cạnh đó là nguồn trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phương, nguồn ODA và nguồn vay ưu đãi. Thủ tướng nhấn mạnh: “Việt Nam dứt khoát không để vỡ nợ, phải bố trí đủ để trả nợ, chủ yếu là trả nợ phần đầu tư xây dựng trước. Trái phiếu cũng phải tính 5 năm. Tổng trái phiếu Chính phủ và địa phương chúng tôi sẽ tính kỹ, căn cứ vào bảo đảm nợ công rồi mới tính phát hành trái phiếu thế nào để có nguồn vốn bổ sung cho đầu tư phát triển nhưng đồng thời giữ vững an toàn cho nền tài chính quốc gia”.
Ngoài nguồn vốn ngân sách cho đầu tư công, tập trung chính cho các đột phát chủ yếu về thể chế và hạ tầng kinh tế xã hội (đặc biệt là các công trình quan trọng, thiết yếu cho tái cơ cấu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cho đời sống của người dân), Thủ tướng Chính phủ yêu cầu thực hiện cơ chế xã hội hóa, cơ chế kinh tế thị trường để thu hút các nguồn lực tổng đầu tư toàn xã hội. Nếu không huy động nguồn lực đầu tư ngoài xã hội thì không thể nào đáp ứng được yêu cầu phát triển.
Phải thay đổi cách tính GDP không giống ai
Về việc tính lại cách tính GDP của các địa phương, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ, đây không phải hình thức chủ nghĩa mà là yêu cầu khách quan trong quá trình chuyển đổi từ kế hoạch tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường. Việc kéo dài cách tính theo Liên Xô trước đây cho tới nay đã khiến những mặt tích hợp với tình hình trước kia trở thành không thích hợp với tình hình hiện nay.
“Tôi nói một cách rất thật, cách tính GDP của các tỉnh, thành hiện nay là không xác thực, không đúng thực tế và so với quốc tế thì không giống ai cả. Đây là một sự thật mà chúng ta không thể kéo dài mãi một khi chúng ta đã hội nhập, đã đổi mới. Cách tính tăng trưởng GDP của cả nước, tính lạm phát, tính chỉ số giá CPI thì các tổ chức quốc tế thừa nhận mình tính sát, còn GDP của các địa phương thì phải tính lại để xác thực hơn, đúng thực tế hơn và phù hợp với thông lệ quốc tế hơn.
Đúng là khi tính lại thì có chuyện này, cũng nhạy cảm nhưng chúng ta nên nhìn sự thật. Tính lại là thấp hết. Tôi đi làm việc với tỉnh nào cũng tăng GDP 13 – 14% hết, nhưng cộng 63 tỉnh, thành thì làm sao lại có con số tăng trưởng GDP của cả nước chỉ hơn 5%? Chúng ta nên chấp nhận tính lại một cách khoa học cho chính xác. Nếu đổi mới cái này cho xác thực, phù hợp thực tế thì chúng ta có căn cứ để tính kế hoạch 5 năm tới!” – Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh.
Theo Cafe.vn:
http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/viet-nam-dut-khoat-khong-de-vo-no-2014080807592885711ca33.chn

Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

Cậu ấm, con trưởng có thành... trụ cột?

“Cậu ấm, con trưởng”… là các danh từriêng từ lâu xã hội ám chỉ các DNNN được ưu đãi, nâng đỡ, bởi vị thế trụ cột củanó trong nền kinh tế.

(Ảnh minh họa)

I - Đây chả phải là tên một bộ phim sến, hay một ca khúc tình yêu đôi lứa. Mà là trạng thái tâm lý của xã hội tuần qua, trước những thông tin kinh tế của nước Việt. Sau những ngỡ ngàng nghe tin Campuchia đã sản xuất được ô tô chạy điện, tuần này, lại là câu chuyện nông nghiệp “Khi VN loay hoay, CPC đã âm thầm tiến”.
Mà đúng là nông nghiệp CPC đang âm thầm… gặt hái. Cho dù VN, với hạt gạo làng ta, suốt ¼ thế kỷ qua, ổn định tại 10 thị trường chính, nhưng vẫn là những quốc gia thu nhập trung bình và thấp, chưa với tới được các thị trường cao cấp như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc. Vậy mà có lúc VN đã rất đỗi tự hào. Còn CPC, 3 - 4 năm qua, đã nhanh chóng có chiến lược và xâm nhập những thị trường khó tính bậc nhất này.  Không những vậy, cùng phẩm cấp gạo và thời điểm bán, gạo CPC luôn có giá bán cao hơn gạo VN từ 30 - 50 USD/tấn. (Tuần Việt Nam, ngày 30/7)
Đó là gì nếu không phải là sự thành công của chính sách và cung cách quản lý của CPC?
Chính sách phát triển, cung cách quản lý là hai yếu tố căn cốt quyết định sự thành bại của nền kinh tế. Nó đòi hỏi một tư duy kinh tế khoa học, hợp lý, văn minh để ra đời những quyết sách có ý nghĩa đòn bẩy kích thích sự phát triển của xã hội. Nhưng xã hội sẽ nghĩ gì, khi nghe kết quả kiểm toán mới đây của cơ quan Kiểm toán Nhà nước công bố các sai phạm của “nhiều ông lớn Nhà nước”- những DNNN của nước Việt?

"Cậu ấm, con trưởng”… là các danh từ riêng từ lâu xã hội ám chỉ các DNNN được ưu đãi, nâng đỡ, bởi vị thế trụ cột của nó trong nền kinh tế. Thế nhưng, liệu có phải từ tư duy kinh tế quản lý, mà các DNNN này như “cây gậy” được quá chiều chuộng, khiến cho tự lúc nào, hoạt động và hiệu quả kinh doanh của nó giống một bài… đồng dao: “DN to làm ăn nhỏ/ Năng lực nhỏ hưởng lương to/ Đầu tư to đóng góp nhỏ/ Sản phẩm nhỏ sai phạm to…
Tại hội thảo “Phát huy vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”, ngày 6/6/, ông Vương Đình Huệ, Trưởng ban Kinh tế TƯ nói thẳng: Năng suất lao động, kinh doanh của khối các DNNN còn thấp. Hiệu quả đóng góp chưa tương xứng với nguồn lực. DNNN hiện đang sử dụng 70% đất đai và 70% viện trợ chính thức ODA trong khu vực sản xuất kinh doanh, 60% tín dụng của nền kinh tế nhưng chỉ đóng góp… 32% tổng GDP cả nước (Gafin.vn, ngày 06/6).
Trong khi đó, kết quả của Kiểm toán NN công bố công khai mới đây cho thấy những con số ấn tượng không kém.
Trong số 242 đơn vị thuộc 27 tập đoàn, tổng công ty được kiểm toán, hầu hết đều phản ánh không đúng doanh thu. Tỷ như Tập đoàn điện lực VN (EVN). Đầu tư vượt mức vốn điều lệ 21.312 tỷ đồng, trong khi hiệu quả rất thấp. Quản lý vốn cuả các DN không chặt chẽ, dẫn tới nợ quá hạn, khó đòi. Như nợ quá hạn của Tổng CT điện lực dầu khí thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia VN (PVN) lên tới 9.650 tỷ đồng. Một số đơn vị khác số nợ lớn, ít nhất cũng gần 500 tỷ đồng, nhiều nhất gần 2400 tỷ đồng.
Đặc biệt, nợ xấu (nợ khó đòi) toàn hệ thống tăng nhanh theo… thời gian. Tỷ lệ nợ xấu tại ngày 31/12/2012 của các ngân hàng thương mại đều tăng so với 31/1/2011. Đến 30/6/2013, tỷ lệ nợ xấu của 2/3 NHTM tiếp tục tăng so với thời điểm 31/12/2012. Nếu tính cả nợ được cơ cấu lại (theo QĐ 780 ngày ngày 23/4/2012) thì tới 2/3 NHTM có tỷ lệ nợ xấu vượt quá mức an toàn theo quy định của NHNN (VTV News, ngày 25/7).  Rõ là các DNNN đang tiếp tục tiến lên kiểu phú quý giật lùi.
Đáng buồn, các công ty con (do các DNNN thành lập ra) cũng kế thừa cái “gien” thua lỗ của công ty mẹ. Khiến các DNNN này trót đâm lao phải theo lao. Mặt khác, “bản tính” làm ăn của các DNNN ở góc độ nào đó, không chỉ phản ánh tính cách người Việt, mà còn phản ánh tư duy và quản lý Nhà nước.
Chuyên gia kinh tế cao cấp Phạm Chi Lan nhận xét, sự liên kết giữa các DN rất khó thực hiện, vì môi trường kinh doanh ngay từ đầu đã thiếu công bằng, sòng phẳng. Trong khi lẽ ra, hoạt động kinh doanh đòi hỏi các DNNN liên kết với các DN vừa và nhỏ như những vệ tinh, thì ngược lại, các DNNN hoạt động theo kiểu khép kín. Khi cần thiết, mở thêm các công ty con.
Đến khi các công ty con thua lỗ, các DNNN rơi vào cảnh cá chuối đắm đuối vì con. Nhưng vì con cũng là vì lợi ích của mẹ, vì cái “lỗ” của công ty mẹ đã có… Nhà nước lấp?
Kinh doanh vốn luôn là lĩnh vực khó khăn, đòi hỏi tài năng DN phải nhạy bén với nhiệt độ lên xuống thất thường của thị trường, để có những quyết sách kịp thời, vừa làm ra lãi, vừa không sai phạm theo quy định pháp luật. Thế nhưng những con số tiền tỷ của nợ xấu, nợ khó đòi, của báo cáo không trung thực trong doanh thu, cho thấy cung cách làm ăn đó là gì? Nếu không phải là hệ lụy do tư duy kinh tế thủ cựu, xơ cứng. Do quản lý Nhà nước lỏng lẻo, khiến các DN sử dụng tiền đầu tư kiểu… tiền chùa?

Nếu không phải là tâm lý ỉ lại vào vị thế “chủ đạo” nền kinh tế Nhà nước, làm bừa, làm ẩu, bất kể hậu quả ra sao? Sự “chủ đạo” kiểu này sẽ dẫn dắt nền kinh tế đất nước đi đến đâu? Mới đây, tại phiên họp CP thường kỳ, Thủ tướng CP đã phát biểu, cần triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, qua đó đặt DNNN trong môi trường cạnh tranh, bình đẳng của cơ chế thị trường (PLT/P.HCM, ngày 31/7).
Nhưng hiện tại, cung cách quản lý vừa lỏng lẻo, vừa chồng chéo kỳ lạ đã dẫn những chuyện hài hước mà một DN vừa “tố khổ” tại Hội thảo Dự báo tác động của Luật DN sửa đổi. Đó là một chiếc xúc xích tới 07 bộ quản lý: Bộ Y tế, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Công thương, Tài nguyên và Môi trường, Tài chính (cùng với Tổng cục thuế và Tổng cục Hải quan), Khoa học Công nghệ và cả bộ Công an nữa. Đến nỗi, DN “xúc xích” kêu lên là không thể… thở được. Chỉ mong Luật DN được sửa đổi để họ có thể bình an làm ăn, giữ được nhiệt huyết cống hiến cho đất nước.
Luật DN chưa biết sẽ sửa theo cách nào? Giữa lúc đó mới đây, ý kiến của các chuyên gia kinh tế, các nhà am hiểu luật pháp đang rất lo ngại, liên tục kiến nghị “cần bỏ cơ chế Bộ chủ quản DNNN”.
Kiến nghị này xuất phát từ một hiện tượng “gió đổi chiều” rất bất ngờ. Đó là Dự Luật DN đầu năm 2014, Điều 172 vừa hé ra điểm mới tiến bộ mang tính đột phá về mặt quản lý- tách bạch vai trò chủ sở hữu với quản lý Nhà nước của các bộ chủ quản. Vậy mà, chả hiểu thế nào, qua nhiều lần thảo luận đề xuất, nay mai, nếu dự luật được thông qua, các DNNN lại nghiễm nhiên biến thành… sân sau của các bộ.
Bình luận về “làn gió mới” này, Luật gia Vũ Xuân Tiền nói thẳng: Bỏ Điều 172, các bộ chủ quản lại tiếp tục vừa đóng vai trò chủ sở hữu, vừa đóng vai trò quản lý Nhà nước. Nghĩa là vẫn vừa đá bóng vừa thổi còi. Cơ chế này đi thụt lùi, biến DNNN thành sân sau của các bộ, tạo nguy cơ sinh ra lợi ích nhóm rất kinh khủng.
Lợi ích vốn hữu hình, lợi ích nhóm thì vô hình. Nếu vậy, các DNNN tiếp tục hiện hình… thua lỗ và tụt hậu?

**************
II- Trong khi các DNNN làm ăn bết bát, và nếu Điều 172 của Dự thảo Luật DN có nguy cơ bị xóa bỏ, rút cục mọi chuyện sẽ lại …Nguyễn Y Vân, thì ở bên mặt kia, các DN tư nhân ra sao?
Đối lập với những cái tên gọi đáng thèm muốn: “Ông lớn, con trưởng, cậu ấm” của các DNNN, các DNTN có những tên gọi rất tủi thân: “Con nuôi, con rơi, đứa con bị hắt hủi…”. Và sự ăn nên làm ra của đứa con này cũng không ăn nên làm ra lắm. Thậm chí đáng buồn.
Mới đây, kết quả điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN đưa ra con số giật mình: Trong 10 năm từ 2002-2012, mặc dù số lượng DNTN nhiều lên nhưng quy mô của DN lại nhỏ đi, cả về lao động và vốn bình quân. DNTN từ chỗ đóng góp 15,5% vào GDP năm 2002, năm 2012 con số này chỉ còn 11%. Cũng là một kiểu phú quý giật lùi.
Vì sao vậy? Vì sao sau công cuộc đổi mới, những năm 90, đã có lúc DNTN khởi sắc. Niềm hy vọng vào một sự thay đổi diện mạo kinh tế, từ cách tư duy, tổ chức đến vận hành đã từng khiến tâm lý xã hội lúc đó lạc quan, hy vọng.

Quan sát thực tiễn đường đi nước bước của các DNTN, các chuyên gia kinh tế, các nhà quản lý xã hội nhận ra những yếu kém của loại hình này, đặt trong bối cảnh xã hội mà kinh tế thị trường ở VN cũng còn tìm tòi cả lý luận, các chế định, quy phạm pháp luật còn đầy hạn chế, khiếm khuyết, mang tính chủ quan của ý thức hệ.
Đó là đặc điểm tư duy tiểu nông và lối làm ăn sản xuất nhỏ của người Việt, thiếu chiến lược, chỉ ham muốn làm giàu nhanh. Điều này, phản ánh rất rõ trong thị trường bất động sản, hoặc chứng khoán- chỉ có các nhà đầu cơ, ít nhà đầu tư. Chỉ có kinh doanh kiểu ăn xổi ở thì, mì ănliền, ít doanh nhân thực sự, làm ăn chuyên nghiệp.
Ở góc độ nào đó, vào thời điểm khủng hoảng tài chính, lãi suất ngân hàng quá cao khiến cho các DNTN đã không thể nào chịu nổi.
Sự nhập khẩu hàng hóa ồ ạt, mặt hàng phong phú, với giá khá rẻ so với các sản phẩm hàng hóa trong nước, mặt hàng đơn điệu, chất lượng còn kém, giá thành lại cao, khiến các DNTN thực sự điêu đứng.
Sức khỏe các DNTN vốn đã không khỏe, lại cùng đứng “đầu gió”, sánh vai với các DNNN vốn được ưu đãi, chiếm thế thượng phong, các DN có vốn nước ngoài (FDI) đầy kinh nghiệm làm ăn, vốn đầu tư phong phú, được khuyến khích, ưu tiên, trên cái sàn kinh doanh cạnh tranh không bình đẳng ngay từ đầu, thì các DNTN “nốc ao” là dễ hiểu.
Đã thế, các DNTN lại kinh doanh trong một môi trường xã hội mà cả tư duy kinh tế, lý luận kinh tế, lẫn luật pháp đều “nghiêng hết về bên anh”- DNNN. Những khó khăn trong làm ăn của họ, có những cái không phải do họ. Chuyên gia kinh tế cao cấp Phạm Chi Lan, trong cuộc gặp gỡ báo chí vào ngày 15-7 vừa qua tại TPHCM đã phải “giật mình vì câu chuyện phát triển kinh tế tư nhân VN dường như phải bắt đầu lại từ đầu, có quá nhiều thứ phải trở lại từ cơ bản”.
Theo bà, luật pháp VN không rõ ràng, kém minh bạch, khiến môi trường kinh doanh kém ổn định. Nhiều cơ quan chức năng không hiểu luật hoặc hiểu theo cách khác so với tinh thần của luật, do đó họ có quyền vận dụng khác đi, gây khó cho DN. Trong đó, cơ quan thuế bị kêu nhiều nhất.
Nói đến cơ quan thuế thì các DNTN… sợ hãi là phải.
Không sợ hãi sao được, khi mà mới đây, xếp hạng môi trường cạnh tranh của 189 nước năm 2014, do WB công bố, VN xếp thứ 99. Riêng chỉ số nộp thuế, đứng thứ 149/ 189. Để nộp thuế, DN phải mất hơn 800 giờ/năm. Cũng mới đây, làm việc với Tổng cục Thuế, người đứng đầu CP đã phải yêu cầu ngành này cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, giảm một nửa thời gian và số lần nộp thuế, phục vụ DN và người dân. Bởi số thời gian dành cho nộp thuế quá cao, cao nhất so với nhiều nước, ngay khu vực ASEAN, TQ…

Các nhà quản lý xã hội, quản lý kinh tế sẽ nghĩ gì khi nhìn vào diện mạo kinh tế VN, nhìn vào số DN đóng cửa, ngừng hoạt động trong nửa đầu năm nay, được Tổng cục Thống kê ghi nhận: 33.454 DN, gần tương đương với số đăng ký thành lập mới là 37.315. Như vậy, đà phá sản của DN chưa dừng lại, và ước tính có khoảng 200.000 doanh nghiệp đã đóng cửa trong 04 năm gần đây (VietNamNet, ngày 27/7).
Đương nhiên trong kinh doanh, lỗ lãi, thành bại là chuyện thường tình. Nhưng hiện tượng đó sẽ không thể coi là thường tình, nếu như nó phụ thuộc quá nhiều vào tư duy kinh tế, vào các chính sách quản lý vĩ mô bất cập, không phù hợp quy luật thực tiễn và quy luật thị trường.
Để kết bài này, xin dẫn 02 nhận xét của hai quan chức khác nhau, nhưng nó vô tình bổ sung cho nhau, trước con đường đau khổ nhiều tập của DNTN.
Ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TƯ:Những năm 2002-2006, tinh thần khởi nghiệp của người dân, đặc biệt là những người trẻ rất “hồ hởi”. Nhưng rồi tinh thần đó cứ thui chột đi. Tại sao khu vực kinh tế tư nhân trong nước tăng không đáng kể, không lớn lên được. Hệ thống thể chế này không khuyến khích. Nhà nước chiếm hết cơ hội, Nhà nước hút toàn bộ nguồn lực về, sau đó chia theo nguyên tắc không có chi phí vốn. Rồi họ lại lập công ty con, công ty cháu. Tôi là người làm về chính sách mà không thấy có lối ra...”
Còn ông Jim Yong Kim, Chủ tịch WB: Một trong những chiến lược để khôi phục lại tốc độ tăng trưởng nhanh chính là tạo ra những điều kiện cần thiết để đảm bảo rằng khu vực kinh tế tư nhân chính là động cơ của sự đổi mới, từ đó thúc đẩy năng suất và nâng cao hiệu quả.(TBKTSG, ngày 26/7)
Chỉ còn 06 năm nữa, VN sẽ cơ bản trở thành nước CNH, và sắp tới VN sẽ tham gia TPP (Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương). Nhưng kinh tế nước Việt với diện mạo đầy ám ảnh này về sự phát triển, sẽ ra sao?
Bỗng dưng… muốn khóc. Khi nhớ tới phát ngôn ấn tượng của tướng Lê Văn Cương: VN không  phải nước đang phát triển, đã phát triển hay chậm phát triển; mà là khó phát triển!


Theo Dantri:
http://dantri.com.vn/kinh-doanh/cau-am-con-truong-co-thanh-tru-cot-925977.htm

Nhiều người Việt đang đi vay để... sống!

Chuyên gia kinh tế Bùi Trinh đã chia sẻ với Đất Việt qua góc nhìn của mình từ việc mổ xẻ khía cạnh thu nhập của GDP. Theo vị chuyên gia này: “Chúng ta đang có sự ngộ nhận về GDP và thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam”.
Ngộ nhận đáng tiếc
Từ khi chuyển từ hệ thống hạch toán sản xuất vật chất MPS sang hệ thống tài khoản quốc gia SNA, nhiều chỉ tiêu của Việt Nam ngày càng tương đồng với thế giới.
Tuy nhiên cũng chính sự thay đổi này khiến phát sinh một số ngộ nhận về con số GDP như chỉ tiêu “tuyệt đối” tính toán thành tích phát triển kinh tế và nâng cao đời sống.
“Một số người đã nhầm lẫn coi GDP gần như là chỉ tiêu thu nhập (lẽ ra chỉ tương quan cùng chiều), nên gây nên hiểu nhầm đáng tiếc. Một số người đã mặc nhiên xem GDP bình quân đầu người như là thu nhập bình quân đầu người. Khi nói đến GDP bình quân đầu người nhiều người lập tức so sánh đến thu nhập của dân cư”, chuyên gia Bùi Trinh nói.
Thực chất về cơ bản GDP được nhìn dưới dưới ba góc độ. Thứ nhất đó là ở giác độ sử dụng cuối cùng: GDP bao gồm tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước, tích lũy tài sản gộp và xuất khẩu thuần.
Thứ hai đó là dưới giác độ sản xuất: GDP = tổng giá trị sản xuất – tổng chi phí trung gian + Thuế sản phẩm – Trợ giá sản phẩm.
Còn ở giác độ thu nhập bao gồm mấy nhân tố cơ bản: Thu nhập của người lao động, thặng dư sản xuất, khấu hao tài sản cố định và thuế sản xuất – trợ cấp sản phẩm.
Theo ông Trinh, nếu nhìn ở khía cạnh thu nhập của GDP theo Hệ thống tài khoản Quốc gia: Tổng thu nhập của mỗi khu vực thể chế bao gồm thu nhập từ sản xuất + thu nhập thuần từ sở hữu + thu nhập thuần từ chuyển nhượng, thì đối với mỗi Quốc gia thì GDP cũng chỉ là chỉ tiêu sơ khởi.
Bởi vì sau đó còn một số chỉ tiêu khác như GNI (Tổng thu nhập quốc dân), NDI (thu nhập quốc dân khả dụng), để dành (saving) và tích lũy…
Thế nhưng, trên thực tế số liệu của Ngân hàng phát triển Châu Á thấy GNI chiếm tỷ trọng ngày càng nhỏ và luồng tiền chi trả sở hữu thuần ra nước ngoài ngày càng lớn.
Trong khi đó, thu nhập của người lao động từ sản xuất (một nhân tố của GDP) được hiểu thu nhập bằng tiền và hiện vật của người lao động từ quá trình sản xuất, hiện nay hàng năm Tổng cục Thống kê không công bố chỉ tiêu này, nhưng dựa vào bảng cân đối liên ngành (input-output table) có thể ước tính thu nhập từ lao động chiếm khoảng 49% GDP.
Như vậy GDP bình quân đầu người năm 2012 khoảng 1755 USD trong đó thu nhập từ sản xuất của người lao động ước tính khoảng 860 USD đầu người.
Cũng theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng thu nhâp bình quân đầu người năm 2012 khoảng 1152 USD, điều này có nghĩa khoản thu nhập bình quân đầu người ngoài sản xuất (từ sở hữu và từ chuyển nhượng) là khoảng 292 USD; tỷ lệ giữa thu nhập từ sản xuất so với tổng thu nhập năm 2012 và 2013 khoảng 74-75%, phần còn lại là thu nhập kiếm được từ ngoài quá trình sản xuất (25-26%).
“Như vậy có thể thấy GDP bình quân đầu người và thu nhập bình quân đầu người là hoàn toàn khác nhau; trong GDP có một phần thu nhập (thu nhập từ sản xuất) thuộc về tổng thu nhập”, chuyên gia Bùi Trinh phân tích.

Ngộ nhận GDP: Nhiều người Việt đang đi vay để... sống!
Một số người đã nhầm lẫn coi GDP gần như là chỉ tiêu thu nhập (lẽ ra chỉ tương quan cùng chiều), nên gây nên hiểu nhầm đáng tiếc
Khoảng cách ngày càng nới rộng
Trong một báo cáo mới đây, ADB đã đánh giá những tác động của tăng trưởng đối với xóa đói giảm nghèo, bất bình đẳng thu nhập và phúc lợi xã hội. ADB kết luận rằng không nên coi tốc độ tăng trưởng là chỉ số tốt nhất để đánh giá sức khỏe của một nền kinh tế.
Theo ông Trinh, nếu biểu thị theo sơ đồ sẽ thấy khoảng cách giữa thu nhập bình quân đầu người từ sản xuất và tổng thu nhập bình quân đầu người ngày càng nới rộng ra.Điều này phần nào do lượng kiều hối những năm gần đây chuyển về Việt Nam khá lớn.
Theo tính toán nếu GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2013 là 1960 USD thì thu nhập bình quân đầu người từ sản xuất vào khoảng 960 USD và tổng thu nhập bình quân đầu người ước tính vào khoảng 1280 USD.
“Tuy nhiên việc tính chuyển thu nhập bình quân đầu người ra USD đôi khi chỉ mang tính ước lệ vì khi trong điều kiện lạm phát cao và tỷ giá giữa USD và Việt Nam đồng hầu như không thay đổi (thay đổi 1-2%) thì thu nhập bình quân đầu người tính theo USD tăng càng cao hơn so với tính theo giá so sánh tiền đồng”, ông Trinh phân tích.
Từ những phân tích trên cho thấy, với số liệu của Tổng cục Thông kê 2012 về thu nhập bình quân đầu khoảng 2 triệu đồng tháng thì tổng thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2013 khoảng hơn 2,2 triệu đồng tháng.
“Đó là mức thu nhập khiêm tốn, rất khó khăn cho người dân, đặc biệt là khu vực nông thôn tổng thu nhập bình quân đầu người trên tháng năm 2012 chỉ là 1,541 triệu đồng còn thấp hơn mức bình quân, trong khi 68% dân số là ở nông thôn. Đó là chưa kể đến tình trạng phân hóa giầu nghèo, làm cho khoảng cách thu nhập giữa 20% người nghèo nhất và 20% người giầu nhất lên tới 10 lần và đang tiếp tục tăng lên”, ông Trinh nhận định.
Mặt khác cũng theo số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy tỷ lệ giữa tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đinh từ năm 2010-2013 luôn ổn định ở mức 70 – 72% GDP, như vậy có thể thấy mức tiêu dùng bình quân đầu người của dân cư năm 2012 khoảng 1229 USD và năm 2013 khoảng 1372 USD, trong khi mức tổng thu nhập bình quân đầu người năm 2012 là 1152 USD và năm 2013 ước tính khoảng 1280 USD.
Do đó ông Trinh khẳng định: “Từ những con số này có thể thấy đa số người dân không những không có để dành mà còn phải đi vay một phần để tiêu dùng! Nếu các tính toán này không có sai số thì đây là tín hiệu khá nguy hiểm, chứng tỏ việc GDP tăng cao hầu như không có ý nghĩa với người dân”.

Theo Dantri:
http://dantri.com.vn/kinh-doanh/ngo-nhan-gdp-nhieu-nguoi-viet-dang-di-vay-de-song-925935.htm