Thứ Tư, 31 tháng 12, 2014

Chẳng có cân vàng nào gửi vào ngân hàng

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình khẳng định như vậy khi nói về chính sách điều hành thị trường vàng của nhà nước.

“Làm giá” sẽ bị xử ngay
Phóng viênĐầu năm mới, người dân có truyền thống gom tiền mua vàng, ông nhận định gì về hiện tượng này?
- Thống đốc Nguyễn Văn Bình:Với phong tục của người Việt Nam, đầu năm, người dân thường mua 1-2 chỉ vàng để lấy hên hoặc tặng người thân vào dịp sinh nhật, thôi nôi… là chuyện bình thường.
Tuy nhiên, với vị trí thống đốc, tôi khuyên những ai có ý định đầu cơ vàng thì nên chấm dứt ngay do lợi nhuận không lớn mà rủi ro rất cao. Tôi xin khẳng định chống “vàng hóa” là mục tiêu ưu tiên số 1 của Ngân hàng Nhà nước. Trước đây, tiềm lực của thị trường vàng lớn hơn tiềm lực của Ngân hàng Nhà nước nhưng hiện cán cân đã thay đổi - tiềm lực của Ngân hàng Nhà nước lớn hơn gấp bội.
Rủi ro như ông nói là có một giai đoạn thị trường vàng bị “làm giá”?
- Đúng là có giai đoạn các nhóm lợi ích đã “làm giá” khiến thị trường vàng méo mó để trục lợi và đối tượng chịu thiệt nhiều nhất chính là người dân. Do đó, bất cứ ai có ý định liên kết để “làm giá”, trục lợi từ thị trường vàng sẽ không qua được mắt của Ngân hàng Nhà nước và bị xử lý ngay.
Sẽ cho nhập lại vàng nguyên liệu
Thời gian qua, lực lượng chức năng đã phát hiện và bắt giữ nhiều vụ vận chuyển, buôn lậu vàng từ nước ngoài về Việt Nam, điều này có phải xuất phát từ nhu cầu tiêu thụ vàng là rất lớn?
- Trong một số đường dây buôn ma túy bị bắt giữ, các đối tượng có kèm thêm buôn bán, vận chuyển vàng thuê chứ không phải gia tăng hay ồ ạt buôn lậu vàng qua biên giới. Tuy nhiên, nói không có nhập lậu vàng là không đúng bởi đến cái kim, sợi chỉ còn nhập lậu nhưng số lượng không nhiều.
Sở dĩ buôn lậu vàng qua biên giới không hấp dẫn là do xử phạt hành chính trong lĩnh vực vàng và ngoại tệ rất nặng, có thể lên tới 1 tỉ đồng/vụ, đồng thời còn bị tịch thu toàn bộ số vàng nên người đi buôn sẽ mất trắng.
Đặc biệt, khi mang được vàng vào trong nước cũng không dễ tiêu thụ. Trước đây, nhà nước cho phép buôn bán vàng miếng thì vàng trôi nổi được nhập về để dập ra vàng miếng bán cho người dân mới có giá trị. Nay vàng có mang về trót lọt thì chỉ bán cho cơ sở làm đồ trang sức nên lợi nhuận không cao.
Thực ra, vàng trang sức vẫn thu hút người dân không chỉ thuần túy là đồ trang sức mà có ý nghĩa tích trữ, thưa ông?
- Thực tế nhiều năm qua, vàng trang sức là sự biến tướng của vàng nguyên chất, là tài sản tích trữ nên mới có chuyện người dân đeo vòng, kiềng, lắc, nhẫn bằng vàng 4 số 9. Trong khi các nước đồ trang sức rất hiếm có vàng 4 số 9 mà chỉ 12-14 cara, giá trị gia tăng của đồ trang sức chủ yếu là hàm lượng chất xám, sự tinh xảo của người thợ và thương hiệu sản phẩm.
Mặc dù chúng ta chưa mở rộng nhập khẩu vàng nguyên liệu nhưng vàng cho sản xuất đồ trang sức vẫn đáp ứng được nhu cầu của người dân. Quả thực, thời gian đầu có một số cơ sở kêu ca đầu vào nhưng sau đó không thấy nói thiếu vàng nữa.
Người dân mua vàng nữ trang tại một cửa hàng trong chợ Bà Chiểu, TP HCMẢnh: Tấn Thạnh
Người dân mua vàng nữ trang tại một cửa hàng trong chợ Bà Chiểu, TP HCM
Ảnh: Tấn Thạnh-NLĐ
Nhưng vừa qua, nhiều doanh nghiệp đề xuất Ngân hàng Nhà nước cho nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất đồ trang sức?
- Việc chưa cho nhập vàng chỉ là biện pháp trước mắt, còn về lâu dài vẫn phải cho nhập vì vàng nguyên liệu trong dân sẽ cạn dần. Tuy nhiên, để có được quyết định cho nhập vàng lại phụ thuộc 2 yếu tố. Vừa qua, chúng ta đã ban hành Thông tư 22, tới đây sẽ là chính sách thuế đối với lĩnh vực vàng trang sức.
Nói một cách dễ hiểu: Một món đồ trang sức trong đó có tỉ lệ vàng nguyên chất tối thiểu, còn giá trị gia tăng chính là hàm lượng chất xám. Ví dụ, một chiếc nhẫn giá trị vàng chỉ 3 triệu đồng nhưng qua chế tác, nó có giá tới 10-15 triệu đồng. Do vậy, nhà nước phải ban hành một biểu thuế đúng với giá trị của vàng trang sức giống như các nước. Bởi thực tế, người mua vàng trang sức là người có điều kiện về kinh tế.
Làm được 2 điều trên thì thị trường vàng trang sức sẽ công khai, minh bạch và khi đó chính sách về nhập khẩu vàng cho chế tác cũng công khai, minh bạch, không bị đánh đồng với vàng nguyên liệu tích trữ.
Dừng huy động vàng là cần thiết
Thưa ông, thiết lập lại thị trường vàng miếng và ngân hàng thương mại dừng việc huy động gửi vàng có phải là mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước chống lại “vàng hóa” nền kinh tế?
- Trước đây, việc để thị trường vàng phát triển tự do nếu nói sai cũng không hoàn toàn nhưng nói đúng cũng không phải. Bởi trong kinh tế không có điều gì đúng mãi và điều gì mãi sai mà quan trọng là thời điểm. Suốt thời gian dài, thị trường vàng thế giới rất ổn định nên vàng cũng là tiền và cơ sở tín dụng có thể huy động vàng của dân và trả lãi. Do giá vàng ổn định nên đơn vị tín dụng có thể quy ra tiền đồng và khi cần thì bỏ tiền ra mua để trả cho dân với mức giá ổn định. Nhưng điều này sẽ không đúng khi thị trường vàng biến động, sinh ra chênh lệch giá và gây rủi ro lớn cho cả người gửi và người nhận gửi vàng, gây bất ổn xã hội.
Mặt khác, việc trả lãi cho người gửi vàng đã vô tình khiến vàng là kênh đầu tư hấp dẫn nên người dân đua nhau gom vàng mang đi gửi dẫn đến “vàng hóa” nền kinh tế. Vì vậy, việc dừng huy động vàng là cần thiết.
Chính hàng loạt công cụ quản lý thị trường vàng mà nhà nước đề ra, đặc biệt là chính sách ổn định tiền đồng, đã làm cho “vàng hóa” nền kinh tế giảm mạnh, nhập lậu vàng cũng giảm và nhu cầu về vàng không còn.
Theo ông, từ việc chống “vàng hóa” thì nguồn lực vàng “chôn” trong dân sẽ được khai thác để đưa vào phát triển kinh tế, thúc đẩy sản xuất - kinh doanh đến mức nào?
- Có thể nói nguồn lực tích trữ vàng trong dân rất lớn nên nếu được khơi thông sẽ có lợi chung cho nền kinh tế. Trước đây, có thời điểm người dân gửi vàng trong các ngân hàng tới 200 tấn và số còn giữ ở nhà chắc cũng tương đương. Nay chẳng có cân vàng nào gửi vào ngân hàng, như vậy là đã chuyển hóa thành dòng tiền đầu tư vào nền kinh tế dưới nhiều hình thức khác nhau.
Theo Cafef:
http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/dau-co-vang-chi-co-chet-2015010100060797719ca34.chn

Thứ Ba, 30 tháng 12, 2014

PGS.TS Đào Văn Hùng: 'Nợ công vẫn chưa được tính đủ'

Chuyên gia này cho rằng cần đưa thêm các khoản tồn đọng của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,  nợ của Ngân hàng phát triển và Ngân hàng chính sách xã hội... vào nợ công. Tuy vậy, trần nợ nên được nới lên 65 - 68% GDP.


Bộ Tài chính vừa công bố Bản tin nợ công số 3 với số liệu cập nhật giai đoạn  2010-2013. Thông tin này gây ra nhiều ý kiến trái chiều về việc quản lý, xác định phạm vi nợ, mức độ an toàn cũng như phù hợp đối với Việt Nam. VnExpress vừa có trao đổi với PGS.TS Đào Văn Hùng, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, Giám đốc Học viện Chính sách và Phát triển (Bộ Kế hoạch & Đầu tư) về vấn đề này.
dao-van-hung-4087-1419774215.jpg
PGS.TS Đào Văn Hùng cho rằng ngưỡng nợ công tối ưu của Việt Nam sẽ là 65-68% GDP nếu tính đầy đủ các khoản nợ.
- Căn cứ trên số liệu của Bản tin, ông đánh giá thế nào về mức độ an toàn nợ công tại Việt Nam?
Học viện Chính sách và Phát triển vừa qua đã phối hợp với các chuyên gia nghiên cứu về vấn đề này. Đánh giá tổng quátnhóm nghiên cứu cho rằng rủi ro vỡ nợ đối với nợ công của Việt Nam là thấp, nhưng còn tiềm ẩn nhiều vấn đề và triển vọng là không bền vững.
Ngưỡng nợ trên GDP, tính theo Luật Quản lý nợ công là 54,2% (năm 2013) và 59,9% (ước năm 2014). Theo cách tính của nhóm nghiên cứu, tỷ lệ này sẽ cao hơn, lần lượt là 61,28% và 65,2%. Dù sao, ngưỡng này vẫn nằm trong mục tiêu kiểm soát nợ công của Chính phủ (65%).
Nợ vay trong nước đang xu hướng tăng, song không có khả năng vỡ nợ vì không phụ thuộc vào dự trữ ngoại tệ và khi cần, Nhà nước có thể phát hành trái phiếu để trả nợ. Nợ vay nước ngoài vẫn thấp so với tiêu chuẩn an toàn của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB).
Hệ số tín nhiệm của Việt Nam được Fitch Ratings, Moody’s và S&P đánh giá ở mức BB- và B1 và có triển vọng ổn định. Điều đó có nghĩa là có rủi ro nhưng vẫn ở mức an toàn và chưa có nguy cơ lâm vào khủng hoảng.
- Những rủi ro chủ yếu đối với an toàn nợ công Việt Nam hiện nay là gì, thưa ông?
- Có nhiều rủi ro. Tỷ lệ giữa nghĩa vụ trả nợ và tổng thu ngân sách đang ở mức cao và có xu hướng tăng. Rủi ro không trả được nợ từ các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh, các khoản nợ xấu và nợ có khả năng mất vốn của doanh nghiệp Nhà nước vay ngân hàng có thể chuyển thành nợ công...
Ngoài ra, việc quản lý và sử dụng vốn vay để đầu tư công kém hiệu quả, lãng phí, thất thoát, tăng trưởng kinh tế giảm sút và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thấp làm giảm nguồn trả nợ… cũng sẽ là những áp lực lên nợ công trong tương lai.
- Có ý kiến cho rằng rủi ro nợ công nằm ở việc chúng ta chưa tính đủ các khoản nợ theo tiêu chuẩn quốc tế. Quan điểm của ông như thế nào về việc này?
- Hiện nay chưa có tổ chức tài chính quốc tế nào công bố về chuẩn mực nợ công áp dụng cho tất cả các nước. Một số tổ chức quốc tế hàng đầu như IMF, WB, OECD, UNCTAD đã xuất bản các tài liệu hướng dẫn, nhưng đây không phải là các khuyến nghị về tiêu chuẩn chung, không có tính pháp lý, yêu cầu tuân thủ, giám sát đối với bất kỳ quốc gia nào.
Bên cạnh đó, chưa có tổ chức tài chính - tiền tệ, kiểm toán, định hạng tín nhiệm nào trên thế giới khuyến nghị rằng phạm vi xác định nợ công của Việt Nam là sai lệch so với chuẩn mực hay thông lệ quốc tế.
Nhưng dù phạm vi xác định nợ công Việt Nam đã được quy định rất rõ ràng dựa trên các cơ sở kinh tế, pháp lý và tiếp cận gần với một số cách tính của các nước tiên tiến thế giới, chúng tôi lưu ý vẫn còn một số yếu tố tính chưa đầy đủ so với bản chất nợ công, làm ảnh hưởng đến sự chính xác và cập nhật của số liệu.
- Hiện Chính phủ đang tập trung tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước, trong đó có nhiều đơn vị kinh doanh không hiệu quả. Việc không tính đến khoản vay của doanh nghiệp Nhà nước sẽ gây rủi ro lớn, ông đánh giá như thế nào?
- Hiện có quan điểm cho rằng nếu tính toàn bộ nợ phải trả của doanh nghiệp vào nợ công thì ngưỡng nợ công Việt Nam hiện nay phải lớn hơn 100% GDP. Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không phải nợ phải trả nào của doanh nghiệp Nhà nước đều có nguy cơ chuyển thành nợ công.
Theo báo cáo Chính phủ, tính đến cuối 2013, tổng nợ phải trả của các doanh nghiệp Nhà nước là hơn 1,6 triệu tỷ đồng, trong đó nợ được bảo đảm bằng vốn chủ sở hữu đạt hơn 1,1 triệu tỷ đồng, chiếm 69% tổng nợ phải trả và bằng 91% nợ tự vay tự trả của doanh nghiệp Nhà nước. Như vậy, mức độ rủi ro nợ tự vay tự trả có thể chuyển thành nợ mất khả năng thanh toán tối đa là 9% (112.594 tỷ đồng), tương đương 3,1% GDP.
Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh lỗ vượt quá vốn chủ sở hữu, Nhà nước nếu không muốn để phá sản sẽ cho tái cơ cấu và làm tăng nợ công tại thời điểm đó với số tiền bằng số nợ không còn khả năng trả, tối đa 112.594 tỷ đồng chứ không phải toàn bộ nợ của doanh nghiệp Nhà nước hiện hành.
Do đó, luật quản lý nợ công không tính nợ tự vay tự trả của doanh nghiệp Nhà nước vào nợ công là có cơ sở kinh tế và pháp lý thuyết phục. Tuy nhiên, trong việc quản lý cần chủ động dự tính được tỷ lệ rủi ro nợ của doanh nghiệp Nhà nước chuyển thành nợ công để đảm bảo an toàn tài chính quốc gia.
- Với các khoản nợ của Ngân hàng Nhà nước, tổ chức bảo hiểm và an sinh xã hội, ông nghĩ sao?
- Theo luật của Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước không có chức năng thực hiện các khoản vay thay Chính phủ và các khoản vay khác có bản chất là nợ công. Các khoản nợ do phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước chỉ là công cụ của chính sách tiền tệ nhằm điều tiết lượng tiền trên thị trường, không phải để chi tiêu, không có rủi ro thanh toán vỡ nợ nên việc không tính các khoản này vào nợ công không gây ảnh hưởng.
Đối với nợ của tổ chức bảo hiểm và an sinh xã hội, hiện nay quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế vẫn trong trạng thái còn kết dư nên chưa phát sinh nợ vay để chi trả bảo hiểm. Nhưng theo dự báo của một số tổ chức, nếu duy trì tình trạng như hiện nay, sau thời gian nữa các quỹ này có thể mất cân đối thu chi dẫn đến phải đi vay nợ để chi trả bảo hiểm. Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là tổ chức tài chính công, được Chính phủ đảm bảo nghĩa vụ thanh toán, do đó, về bản chất nợ của các tổ chức an sinh xã hội phải được tính vào nợ công.
- Việc các khoản nợ vay của Ngân hàng phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách Xã hội nằm ngoài khoản phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh không được tính vào nợ công như hiện nay có hợp lý không, thưa ông? 
 - Theo Luật nợ công, các khoản nhận tiền gửi khách hàng, tiền vay và các khoản nợ phải trả khác ngoài khoản phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh của hai ngân hàng này không được tính vào nợ công là chưa phù hợp vì theo điều lệ, các tổ chức này hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận và được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán.
- Vậy nếu tính thêm những khoản nêu trên, ngưỡng an toàn của nợ công Việt Nam sẽ như thế nào thưa ông?
- Nếu tính đầy đủ cả các khoản nợ được đề xuất thì ngưỡng nợ công bình quân tối ưu giai đoạn 2016 - 2020 là 68% GDP với phương án tăng trưởng kinh tế bình quân khoảng 6,5% một năm và 65% nếu GDP tăng được7%.
Ngưỡng nợ công tối ưu nghĩa là tại đó mức đó vay nợ sẽ tạo ra động lực tăng trưởng phù hợp nhất cho nền kinh tế. Ngưỡng này quá thấp cũng chưa phải là tốt vì không sử dụng tốt đòn bẩy vay nợ để tăng nguồn vốn đầu tư phát triển, đặc biệt đối với các nước đang phát triển và hội nhập quốc tế. Còn nếu cao quá lại làm giảm động lực của đòn bẩy tài chính và giảm tăng trưởng do phần lớn sản lượng làm ra phải trả nợ và lãi, phải tăng thuế để tăng nguồn thu trả nợ.
Tuy nhiên, ngưỡng nợ công tối ưu chỉ là điều kiện cần để đảm bảo an toàn, chất lượng nợ và tỷ lệ giữa nghĩa vụ trả nợ trên thu ngân sách sẽ là điều kiện đủ để đảm bảo mức độ an toàn của nợ công.
Theo Vnexpress:
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/pgs-ts-dao-van-hung-no-cong-van-chua-duoc-tinh-du-3126873.html

Không giảm được thủ tục, mời làm việc khác

Các nước xung quanh cũng bảo vệ sản xuất, môi trường..., nhưng thủ tục vẫn thuận lợi. Không có lý do gì không cải thiện được cho bằng họ - Thủ tướng nhận định.

Chính phủ dành phần lớn thời gian phiên họp thường kỳ cuối cùng của năm 2014 hôm nay để bàn cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
thủ tục, năng lực cạnh tranh, cải cách, môi trường kinh doanh
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Bộ máy cồng kềnh, thủ tục rườm rà... ngành nào cũng nói, hội nghị nào cũng nói. Ảnh: VGP
Báo cáo việc thực hiện nghị quyết số 19 của Chính phủ về vấn đề này, Bộ trưởng KH-ĐT Bùi Quang Vinh kiến nghị năm 2015 cần đặt mục tiêu đưa chỉ số môi trường kinh doanh tối thiểu bằng trung bình ASEAN-6, tập trung cải cách các chỉ số về thực thi hợp đồng, thủ tục phá sản doanh nghiệp và cấp phép xây dựng.
Rà soát thủ tục kiểm tra, quản lý chuyên ngành hàng hóa xuất nhập khẩu cũng là nội dung quan trọng, cần thực hiện ngay, theo Bộ KH-ĐT. Cùng với đó là rà soát danh mục 267 ngành nghề kinh doanh có điều kiện, chỉ giữ lại những điều kiện thực sự cần thiết và triệt để chủ trương “quản lý nhà nước là để tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và cuộc sống của người dân”.
Tuy vậy, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Chủ tịch Hội đồng quốc gia về phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh, nhận định "chúng ta mới rà soát, sửa đổi trên giấy, giảm được bao nhiêu giờ làm thủ tục cũng mới chỉ là tính toán".
"Bước tiếp theo là phải đưa những cải cách đó đến được với từng doanh nghiệp. Năm 2015 nếu không tiếp tục làm quyết liệt thì có khi những thay đổi trong năm 2014 thành ra phản tác dụng”, Phó Thủ tướng nói.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh nghị quyết số 19 về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia được ban hành là xuất phát từ yêu cầu phát triển, yêu cầu hội nhập và căn cứ vào những hạn chế, yếu kém nội tại của nền kinh tế.
"Cải thiện môi trường kinh doanh là nhiệm vụ 'sống còn' trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Hội nhập quốc tế là phải cạnh tranh để phát triển, không có cách nào khác. Bộ máy cồng kềnh, kém hiệu lực, thủ tục rườm rà, gây khó khăn cản trở, những hạn chế, yếu kém đó cấp nào cũng nói, ngành nào cũng nói, hội nghị nào cũng nói. Nhưng khó khăn cản trở ở đâu, làm thế nào? Nghị quyết 19 đã đề ra giải pháp cụ thể cho những vấn đề đó. Chúng ta chọn đúng vấn đề rồi, có kết quả bước đầu rồi, phải tiếp tục thực hiện”, Thủ tướng nói.
Thủ tướng yêu cầu ngay từ đầu năm 2015, công khai chỉ số cải cách hành chính của tất cả các bộ, ngành, địa phương. “Làm được cũng minh bạch mà chưa được cũng phải minh bạch để phấn đấu”, Thủ tướng nhấn mạnh.
Còn với “nút thắt cổ chai” về kiểm tra chuyên ngành khiến khó rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu, Thủ tướng chỉ ra: “Các nước xung quanh ta cũng bảo vệ sản xuất, cũng bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, cũng bảo vệ môi trường, nhưng thủ tục vẫn thuận lợi. Sao ta không tìm hiểu, tham khảo xem họ làm thế nào? Từ vướng mắc trong thực tế để xem lại các quy định của ta và tham khảo kinh nghiệm các ngước, từ đó đưa ra đề xuất cụ thể”.
“Không có lý do gì để không cải thiện được cho bằng họ và phải có chuyển biến trong năm 2015”, Thủ tướng nói.
Người đứng đầu Chính phủ cũng lưu ý việc thực thi của cán bộ: “Hàng hóa trong luồng xanh hải quan chỉ mất 3 giây, nhưng cán bộ không chịu làm thì doanh nghiệp cũng chịu”.
Thủ tướng đồng ý ban hành một nghị quyết mới tiếp tục tinh thần của nghị quyết 19 ngay đầu năm 2015, chỉ rõ những việc cần làm trong từng lĩnh vực.
“Thực tế cho thấy nếu chúng ta làm quyết liệt sẽ có kết quả cụ thể. Phải chỉ rõ phiền hà, vướng mắc ở đâu, sửa chỗ nào, ai sửa, lúc nào sửa xong… thì mới tiến bộ được. Các đồng chí đều xông vào thì làm được thôi. Nếu người đứng đầu cơ quan nào không làm được thì mời làm việc khác”, Thủ tướng khẳng định.
Theo Vietnamnet:
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/214561/khong-giam-duoc-thu-tuc--moi-lam-viec-khac.html

Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014

VN phát hành thêm 1 tỷ đôla trái phiếu

Việt Nam sắp phát hành thêm một tỷ đôla trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế, Bộ Tài chính nước này cho biết.

Thông tin trên được Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng đưa ra tại một hội nghị hôm thứ Tư, hãng thông tấn Reuters đưa tin.

"Sắp tới, nếu không có gì thay đổi, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục phát hành thêm 1 tỷ đôla trái phiếu chính phủ ra thị trường vốn quốc tế với kỳ hạn 10 năm nhằm tái cơ cấu nợ công", ông Dũng được dẫn lời nói.

Trước đó, hồi tháng 11, chính phủ cũng đã phát hành 1 tỷ đôla trái phiếu ra thị trường quốc tế, cũng với kỳ hạn 10 năm và lãi suất cố định 4,8% một năm.

Mức tín nhiệm trái phiếu chính phủ của Việt Nam được Moody's đánh giá là B1 và được Standard & Poor's xếp vào hạng BB-, với triển vọng ổn định.

Ông Dũng không đưa ra mốc thời gian cụ thể cho lần phát hành trái phiếu tới.

Hà Nội từng huy động 750 triệu đôla thông qua phát hành trái phiếu chính phủ vào năm 2005.

Số trái phiếu này sẽ đáo hạn vào năm 2016. Tuy nhiên, do Vinashin được cho vay lại toàn bộ số trái phiếu nói trên và khoản vay đã không được sử dụng hiệu quả, nên hầu như không có khả năng trả nợ cho chính phủ.

Trong năm 2010, Hà Nội tiếp tục phát hành 1 tỷ đôla trái phiếu kỳ hạn 10 năm với lãi suất 6,75%/năm.

Số tiền này sau đó được cho một số tập đoàn kinh tế lớn như Dầu khí, Điện lực, Vinalines vay lại.

Bảo đảm an toàn nợ công

Việt Nam sẽ không vay nợ ngắn hạn từ nước ngoài với lãi suất cao để cân bằng ngân sách trong năm 2015, ông Dũng được dẫn lời nói.

Nguyên nhân của quyết định trên là để đảm bảo nợ công ở mức an toàn, ông cho biết thêm.

Trước đó, trong một báo cáo trước Quốc hội hôm 20/10, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết nợ công sẽ tăng đến 60,3% đến cuối năm 2014, cao hơn mức 54,2% hồi năm ngoái, nhưng vẫn nằm trong mức cho phép.

Nợ nước ngoài được dự đoán là sẽ tăng lên 39.9% so với GDP vào cuối năm 2014, cao hơn so với mức 37,3% năm ngoái, theo một báo cáo của chính phủ.

Mức này được dự đoán là sẽ tăng đến 64,9% vào năm 2016 trước khi giảm xuống còn 60,2% vào năm 2020

Theo BBC:
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/business/2014/12/141227_vietnam_bond_issues

Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2014

MobiFone, VNPT, Viettel đều đạt doanh thu 'khủng'

Dù gặp nhiều khó khăn từ môi trường kinh tế chung và phải tiến hành tái cơ cấu song song với sản xuất kinh doanh, song ba ông lớn của làng viễn thông trong nước vẫn đạt được mức tăng trưởng ấn tượng.

MobiFone, VNPT, Viettel, doanh thu, khủng, 2014,
Cụ thể, tổng lợi nhuận của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) trong năm 2014 dự kiến đạt 6.310 tỷ, đạt 103% kế hoạch và bằng 112% so với thực hiện năm 2013. Đồng thời, tổng doanh thu của dự kiến đạt 101.055 tỷ, đạt 104% kế hoạch, bằng 106% so với thực hiện năm 2013. Tổng nộp ngân sách nhà nước dự kiến là 5.850 tỷ, bằng 118% năm 2013.

Theo số liệu được VNPT công bố tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ năm 2015 của Bộ TT&TT sáng 25/12, hiện tại, tổng số thuê bao điện thoại trên mạng của VNPT là 30,5 triệu (trong đó cố định là 4,5 triệu thuê bao, thuê bao di động là 26 triệu thuê bao). Tổng số thuê bao di động VinaPhone phát triển mới năm 2014 dự kiến đạt 8,8 triệu thuê bao; tổng số thuê bao internet băng rộng đạt trên 3 triệu; tổng số thuê bao IPTV khoảng 1 triệu thuê bao.
Về phần MobiFone, có thể nói năm qua là một năm chứng kiến rất nhiều biến động lớn như tách khỏi VNPT, điều chuyển về Bộ TT&TT, được nâng cấp từ mô hình Công ty TNHH một thành viên thành Tổng công ty Viễn thông MobiFone. Tuy vậy, doanh nghiệp này vẫn duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định như tổng doanh thu ước đạt 36.605 tỷ đồng, bằng 101,4% kế hoạch năm. Mức doanh thu này tuy giảm 7.3% so với năm 2013 nhưng lợi nhuận trước thuế lại tăng 5,2%, đạt 7300 tỷ đồng và bằng 100% kế hoạch năm. Nộp Ngân sách nhà nước ước thực hiện 3926 tỷ đồng.

Tổng thuê bao hoạt động trên mạng MobiFone đến nay đạt 40,2 triệu thuê bao, trong đó năm 2014 phát triển mới được 1 triệu thuê bao. MobiFone cũng đã phát triển thêm 4.566 trạm BTS 2G+3G, nâng tổng số trạm BTS 2G+3G lên 33.939 trạm (2G: 19.647 trạm, 3G: 14.292 trạm).

Trong khi đó, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) cho biết trong năm 2014, đơn vị này đạt doanh thu 196.650 tỷ đồng, đạt 104% kế hoạch, tăng 20% so với năm 2013. Lợi nhuận trước thuế đạt 40.532 tỷ đồng, bằng 103% kế hoạch, tăng 10,5% so với năm 2013; lợi nhuận sau thuế đạt 31.459 tỷ đồng, đạt 105% kế hoạch, tăng 15%. Viettel cũng nộp ngân sách Nhà nước 15.434 tỷ đồng, đạt 104% kế hoạch.

Tính đến thời điểm hiện tại, toàn mạng Viettel đạt 57,4 triệu thuê bao, trong đó di động là 55,5 triệu (3G đạt 14,65 triệu; 2G đạt 40,8 triệu); cố định: 1,9 triệu. Tại thị trường nước ngoài toàn mạng Viettel đạt 17,5 triệu thuê bao di động (3G đạt 1,85 triệu; 2G đạt 15,7 triệu); cố định: 815 nghìn thuê bao.
Theo Vietnamnet:
http://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe-thong-tin-vien-thong/213608/mobifone--vnpt--viettel-deu-dat-doanh-thu--khung-.html


Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

Nợ công VN vượt 1,5 triệu tỉ đồng

Hôm qua, Bộ Tài chính đã công bố bản tin nợ công số liệu cập nhật mới nhất đến hết năm 2013. Theo đó, trong 4 năm trở lại đây, nợ Chính phủ đã tăng 70%, từ 889.000 tỉ đồng vào năm 2010 lên 1,5 triệu tỉ đồng vào cuối năm 2013.

Đặc biệt, trong khi nợ nước ngoài của VN có xu hướng tăng chậm xuống khoảng 44%, thì nợ trong nước lại tăng hơn gấp đôi. Cũng trong năm 2013, tổng số tiền chi trả nợ của Chính phủ tăng gần gấp đôi so với 2010. Và tỷ lệ nợ của Chính phủ so với thu ngân sách 4 năm qua cũng tăng liên tục từ 158% lên hơn 184%. Theo bản tin này, năm 2013, ngân sách nhà nước đã chi gần 186.000 tỉ đồng để trả nợ công.
Tuy chỉ tiêu nợ công nước ngoài gồm nợ nước ngoài của Chính phủ và doanh nghiệp có chiều hướng giảm so với GDP, song theo báo cáo này, nợ công của VN hiện đang đạt xấp xỉ 60%, vượt 1,3 triệu tỉ đồng trong 4 năm qua. Theo dự báo của Bộ Tài chính, nợ công VN đến cuối năm nay khoảng 60,3% GDP và sẽ đạt đỉnh vào năm 2017, bằng khoảng 64,9% GDP. Kỳ vọng của Bộ Tài chính là đến năm 2020, nợ công VN sẽ về mức 60,2% GDP.
Ngày 16.12, đồng hồ nợ công thế giới của tạp chí The Economist điểm nợ công của VN hiện trên 86 tỉ USD, chiếm 47,1% GDP. Với dân số trên 91 triệu người, hiện trung bình mỗi người VN gánh hơn 948 USD (hơn 21 triệu đồng) nợ công thế giới.
Theo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/kinh-te/no-cong-vn-vuot-15-trieu-ti-dong-517810.html

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

7 lý do bạn nên chọn điện thoại Android hơn là iPhone

Lý do thứ nhất: Điện thoại chạy Android đồng bộ tốt hơn với các dịch vụ của Google, như Gmail, Google Maps và Google Calender. Bạn có thể có những chức năng tốt nhất từ những dịch vụ này trước khi những người sử dụng iPhone có nó.
điện thoại Android, iPhone 
Thứ 2: Hầu hết các điện thoại chạy Android cho phép bạn có thể tháo, thay pin. Điều này rất tốt bởi vì pin thường bị chai, xuống cấp qua thời gian.
điện thoại Android, iPhone 
Thứ 3: Hầu hết các điện thoại Android đều cho phép lắp thêm thẻ nhớ SD để mở rộng bộ nhớ của máy.
điện thoại Android, iPhone 
Thứ 4: Các điện thoại Android cho phép bạn cài đặt những ứng dụng cho phép bạn tùy chỉnh cách thức hoạt động của màn hình chính.
điện thoại Android, iPhone 
Thứ 5: Điện thoại Android sạc pin với một chiếc cáp USB tiêu chuẩn- thiết bị này dĩ nhiên là phổ biến hơn so với sử dụng chân cắm Lightning của Apple.
điện thoại Android, iPhone 
Thứ 6: Bạn có nhiều sự lựa chọn về phần cứng hơn khi dùng điện thoại chạy Android: Tất cả, từ màn hình 6 inch cho tới màn hình cong.
điện thoại Android, iPhone
Và cuối cùng: Bạn có thể tậu được một chiếc điện thoại Android cao cấp với giá chỉ bằng một nửa của một chiếc iPhone, như chiếc điện thoại OnePlus One này (có giá 350 USD- gần 7,5 triệu đồng).
điện thoại Android, iPhone
 
Theo Vietnamnet:
http://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe-thong-tin-vien-thong/211811/7-ly-do-ban-nen-chon-dien-thoai-android-hon-la-iphone.html

Dầu mất giá, vội vã lên kịch bản chống thất thu

Vượt thu tới 15%
Chia sẻ với PV. VietNamNet, ông Đỗ Hoàng Anh Tuấn, Thứ trưởng Bộ Tài chính, cho rằng, con số thất thu 1.000 tỷ đồng không phải là kết quả thu ngân sách năm nay mà chỉ là con số tính toán nguy cơ ngân sách năm 2015. Trong đó, Bộ Tài chính đã tính tổng hợp tác động từ các khoản thuế, phí liên quan đến dầu thô, như thuế xuất khẩu dầu thô 10%, thuế tài nguyên dựa theo từng mỏ, sản lượng thực tế, thuế thu nhập doanh nghiệp...
Cũng theo kịch bản này, Bộ Tài chính còn lo ngại nếu giá dầu bình quân năm 2015 chỉ ở mức 80 USD/thùng thì nguồn thu từ dầu thô còn giảm tới 20.000 tỷ. Lý do là bởi dự toán trình Quốc hội thông qua dựa trên dự báo giá dầu thô lên tới 100 USD/thùng, cao hơn 30 USD so với các mức giá hiện nay.
Thông tin này khiến không ít chuyên gia kinh tế giật mình vì nguy cơ mất cân đối ngân sách.
"Tuy nhiên, chúng tôi đã báo cáo tới Quốc hội, thu ngân sách năm nay vẫn đảm bảo và vượt tới 12% so với dự toán. Trong đó, riêng nguồn thu từ dầu thô còn vượt từ 14-15%. Giá dầu giảm hiện nay không ảnh hưởng gì tới ngân sách năm 2014", ông Tuấn cho biết.
Dự toán ban đầu, mặt bằng giá dầu thô năm 2014 được Bộ này báo cáo là 98 USD/thùng. Nhưng thực tế trung bình 11 tháng qua, giá dầu thô xuất khẩu thực tế là 109 USD/thùng. Con số này cao hơn tới 30 USD/thùng so với mặt bằng giá giao dịch dầu thô trên thị trường thế giới hiện nay.
Rõ ràng, ngân sách Việt Nam đã bội thu từ dầu thô.
Không chỉ vậy, báo cáo về tình hình xuất nhập khẩu của Bộ Công Thương còn cho thấy, kế hoạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam đã thành công mỹ mãn cả về lượng và giá ngay từ tháng 10. Bước sang tháng 11 trở đi, toàn bộ phần xuất khẩu dầu thô hiện nay là chính là phần vượt kế hoạch.
Cụ thể, theo kế hoạch năm nay, Việt Nam sẽ xuất khẩu 7.549 nghìn tấn dầu thô với giá trị kim ngạch dự kiến đạt 6.802 triệu USD.
Tính chung 11 tháng đầu năm, Việt Nam đã xuất khẩu dầu thô đạt 8.457 nghìn tấn dầu thô, vượt 908 nghìn tấn so với kế hoạch, tăng 12%. Giá trị kim ngạch mang lại đã đạt 6.860 triệu USD, tăng 52 USD với tỷ lệ tăng 0,8% kế hoạch năm.
So với cùng kỳ năm ngoái, dầu thô 11 tháng qua đã xuất tăng 9,4% về lượng và tăng 3,2% về giá trị.
{keywords}
Việt Nam sẽ xuất khẩu 7.549 nghìn tấn dầu thô
Riêng tháng 11, ước xuất khẩu dầu thô của Việt Nam đạt 850.000 tấn, tăng 50.000 tấn, tương ứng tăng 6,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, số tiền thu về lại giảm 154 triệu USD, tương ứng tỷ lệ giảm 22% so với cùng kỳ năm 2013. So với tháng 10, mặt hàng này vẫn tăng 10,3% về lượng và tăng 3,9% về giá trị.
Đáng chú ý, phần hưởng lợi lớn từ dầu thô này chủ yếu vẫn là thuộc về khối doanh nghiệp FDI. Các dữ liệu thống kê của Bộ Công Thương cho thấy, cả 6,8 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu dầu thô vừa qua đều là của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Vội vã tăng thuế
Sự lao dốc không phanh của giá dầu thế giới hiện khiến người ta liên tưởng ngay tới thời kỳ khủng hoảng dầu lửa năm 2009. Giá dầu thô đã giảm 34% so với hồi đỉnh cao tháng 6-7 trong năm.
Sau sự cảnh báo đầy ẩn ý của Bộ Tài chính, các bộ ngành, địa phương sẽ phải nỗ lực tăng cường mọi giải pháp chống thất thu ngân sách, như đôn thúc giải quyết thu nợ đọng thuế, tăng cường kiểm tra, thanh tra để phát hiện các gian lận, vi phạm thuế, qua đó truy thu thuế...
Và đương nhiên, đây là lý do chính đáng để bộ này bắt đầu tăng thuế để "chống thất thu".
Ngày 6/12, Bộ Tài chính đã âm thầm tăng mạnh thuế nhập khẩu xăng dầu mà không có bất cứ một thông cáo nào được ban hành về quyết định này. Với mức tăng 9%, xăng đã lên mức thuế 27%, dầu diezen có mức thuế 23%, madut có thuế 24%. Với mức tăng thêm 10%, dầu hoả có mức thuế 26%.
Việc tăng thuế này tương đương giá trị khoảng trên 1.000 đồng/lít. Người tiêu dùng cũng mất đi cơ hội để có thể được thêm một lần giảm sâu giá bán lẻ xăng dầu.
Động thái này diễn ra ngược hoàn toàn với chủ trương mà Bộ Tài chính đã có công văn gửi các doanh nghiệp khoảng 2 tháng trước, khẳng định không tăng thuế trong năm nay.
TS. Lê Đăng Doanh chia sẻ với báo chí cho rằng, Bộ Tài chính mới chỉ nhìn một chiều mà chưa tính tác động lợi ích tổng thể mang lại. Trên thực tế, Việt Nam sẽ được hưởng lợi lớn từ giá dầu giảm, nhờ việc nhập được nguyên vật liệu làm từ dầu mỏ giảm theo.
Đồng thời, giá xăng dầu - đầu vào của nhiều ngành sản xuất giảm cũng đã kéo theo làm giảm giá thành hàng hoá dịch vụ. Minh chứng tiêu biểu nhất chính là 11 lần giảm giá xăng dầu và lạm phát năm nay thấp kỷ lục trong hơn 10 năm qua, còn dưới 3%.
Giữa năm 2013, khi nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, Bộ trưởng Bộ Tài chính cũng đã than phiền nguy cơ thất thu ngân sách trầm trọng, kèm theo đó là các giải pháp tăng thu như yêu cầu các tập đoàn nhà nước phải nộp lại cổ tức... Kết quả, ngân sách năm 2013 lại vượt thu tới 63.000 tỷ đồng.
Thứ trưởng Tuấn cũng cho rằng, việc hoàn thành mục tiêu ngân sách năm 2015 không đến mức khó khăn vì dầu thô. Hiện dầu thô chỉ chiếm 10% trong tổng thu ngân sách. Với dự toán thu ngân sách 911.100 tỷ, trong đó, thu dầu thô 93.000 tỷ, chỉ chiếm 10,2%. Nếu dầu thô giảm 30% giá trị thì cũng chỉ tương ứng giảm 3% thu ngân sách.
Do đó, nguồn thu nội địa chiếm 70,5% thu ngân sách, hoàn toàn có thể cố gắng để tăng thu 5% so với dự toán là bù được sự thiếu hụt này nếu có.
Khi giá dầu giảm sâu như vậy, Bộ Tài chính cũng có kế hoạch phối hợp với Bộ Công Thương để ứng phó theo hướng, sẽ giảm khai thác các mỏ có giá thành cao, chỉ khai thác các mỏ có giá thành thấp, vừa phải.
Mức giá được thiết lập hôm 8/12 đã ở mức 65-68 USD thùng, trên các sàn Nymex, Mỹ và London, Anh. Nó đã gần sát với mức bình quân 62 USD/thùng của năm 2009. Và không ai đảm bảo rằng, giá dầu thô lại không rớt sâu tới mức 32,7 USD/thùng, mức thấp nhất của 5 năm nay rơi vào ngày 20/1/2009.
Cùng đó, thị trường xăng dầu thành phẩm Singapore ngày 8/12 cũng cho kết quả xăng 92 đã xuống 73,65 USD/thùng, dầu diezen xuống mức giá 81,45USD/thùng, dầu hoả 82,97USD/thùng và dầu madut có mức giá chỉ còn 383,45 USD/thùng. Tỷ lệ giảm từ 1,3-1,9% so với phiên liền kề trước và giảm từ 30-40% tuỳ mặt hàng so với hồi tháng 7.
Theo VEF:
http://vef.vn/tranh-luan-online/2014-12-10-dau-mat-gia-voi-va-len-kich-ban-chong-that-thu

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

Tổng nợ tập đoàn, tổng công ty Nhà nước vượt 1,5 triệu tỷ đồng

Đây là một trong nhiều thông tin đáng chú ý tại báo cáo mới nhất của Chính phủ về tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2013 của các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp của Nhà nước.
Báo cáo này do Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng thừa ủy quyền Thủ tướng ký.
Tổng tài sản gần 2,87 triệu tỷ đồng
Theo báo cáo, kết thúc năm tài chính 2013, có 796 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, trong đó có 8 tập đoàn kinh tế, 100 tổng công ty Nhà nước (không bao gồm Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam).
Đều so sánh với năm 2012, Chính phủ cho biết tổng tài sản của các doanh nghiệp là 2.869.120 tỷ đồng, tăng 12%, vốn chủ sở hữu là 1.145.564 tỷ đồng, tăng 15%.
Với mức tăng 23%, số tiền nộp ngân sách của các doanh nghiệp năm 2013 là 276.063 tỷ đồng.
Chỉ tăng 1% là tổng doanh thu với 1.709.134 tỷ đồng, riêng khối 8 tập đoàn đạt 989.184 tỷ đồng, tăng 8%.
Với 181.530 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp tăng 15%. Riêng khối 8 tập đoàn, lợi nhuận đạt 137.648 tỷ đồng, tăng 14% so và chiếm 76% tổng lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp toàn quốc.
Dầu khí dẫn đầu về nợ khó đòi
Chuyển sang tình hình tài chính của riêng các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước, công ty mẹ - công ty con, Bộ trường Dũng cho biết, năm 2013, số liệu báo cáo hợp nhất về tổng tài sản của khối này là 2.639.916 tỷ đồng, tăng 10,8% so với thực hiện năm 2012.
Cũng tăng nhẹ so với năm trước là tổng nợ phải thu với 298.645 tỷ đồng, bằng 11,3% tổng tài sản, tăng 1,6%. Nhưng tỷ lệ nợ phải thu khó đòi lại tăng đến 15,8%.
Trụ sở Petro Vietnam tại Hà Nội.
Dẫn đầu về con số tuyệt đối nợ phải thu khó đòi là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam với 2.856 tỷ đồng. Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 890 tỷ đồng, Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam 678 tỷ đồng...
Báo cáo cũng điểm danh những công ty mẹ có nợ phải thu khó đòi trong giá trị tuyệt đối không lớn, nhưng tỷ lệ phải thu khó đòi/tổng nợ phải thu đang ở mức rất cao.
Đó là Công ty mẹ - Tổng công ty Công nghiệp Ôtô Việt Nam có nợ phải thu khó đòi là 11 tỷ đồng, chiếm 59% tổng nợ phải thu. Công ty mẹ - Tổng công ty Chè Việt Nam có nợ phải thu khó đòi 29.187 tỷ đồng, chiếm 59% tổng nợ phải thu...
Nợ phải thu khó đòi và tỷ lệ nợ phải thu khó đòi/tổng tài sản ở mức cao tập trung chủ yếu ở ngành xây dựng, nông nghiệp, báo cáo nêu rõ.
Nợ trong nước chiếm hơn 43% tổng nợ phải trả
Vẫn theo báo cáo hợp nhất của các tập đoàn, tổng công ty, thì tổng số nợ phải trả là 1.514.915 tỷ đồng, tăng 9%.
Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu bình quân năm 2013 là 1,45 lần, có 41 tập đoàn, tổng công ty có tỷ lệ nợ phải trả/bốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần.
Nợ vay từ các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng của các tập đoàn, tổng công ty là 489.260 tỷ đồng, tăng 12,3% so với thực hiện năm 2012 còn nợ nước ngoài là 325.936 tỷ đồng.
Nói sâu hơn về nợ nước ngoài, Chính phủ cho biết số vay ngắn hạn là 36.150 tỷ đồng, vay dài hạn là 289.785 tỷ đồng.
Trong đó, vay lại vốn ODA của Chính phủ là 125.061 tỷ đồng, vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh là 122.543 tỷ đồng, còn lại các tập đoàn, tổng công ty tự vay, tự trả.
Với tổng số vay nợ trong nước chiếm 43,23% tổng nợ phải trả, hệ số nợ tổng quát bình quân là 0,57 lần và hệ số khả năng thanh toán tổng quát bình quân năm 2013 là 1,74 lần, Chính phủ đánh giá các tập đoàn, tổng công ty đang hoạt động phụ thuộc phần lớn vào nguồn vốn vay và hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp tục gặp khó khăn.
Đã thoái hơn 2.300 tỷ đồng vốn đầu tư "tay trái"
Dành một phần dung lượng cho tình hình đầu tư "tay trái", báo cáo cập nhật đến 31/12/2013, các công ty mẹ còn đầu tư tại các lĩnh vực: chứng khoán 957 tỷ đồng; quỹ đầu tư 549 tỷ đồng; bảo hiểm 1.498 tỷ đồng; ngân hàng, tài chính 16.101 tỷ đồng; bất động sản 13.176 tỷ đồng.
Tổng giá trị các khoản đầu tư nêu trên nếu xét trên báo cáo hợp nhất của tập đoàn, tổng công ty chiếm 3,38% vốn chủ sở hữu (1,33% tổng tài sản), nhưng xét trên báo cáo của công ty mẹ chiếm 3,37% vốn chủ sở hữu (1,88% tổng tài sản), báo cáo tiếp tục phân tích.
Riêng với thoái vốn đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, Bộ trưởng Dũng nêu số liệu 10 tháng năm 2014, giá trị thoái vốn đầu tư ngoài ngành của các tập đoàn, tổng công ty ước đạt 2.415 tỷ đồng, ước thực hiện trong tháng 10/2014 là 114,863 tỷ đồng.
Trong đó, tính đến 30/9/2014, các tập đoàn, tổng công ty đã thực hiện thoái vốn được 2.300,137 tỷ đồng.
Cụ thể: chứng khoán 89,6 tỷ đồng, ngân hàng, tài chính 2.029,918 tỷ đồng, bảo hiểm 104,573 tỷ đồng và quỹ đầu tư là 76 tỷ đồng.

Theo vef:
http://vef.vn/diem-nong/2014-11-28-tong-no-tap-doan-tong-cong-ty-nha-nuoc-vuot-1-5-trieu-ty-dong

Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2014

Ăn nhậu vô tội vạ vẫn quyết toán được hết

 "Bất kể thu ngân sách có vượt vài chục phần trăm so với dự toán, thâm hụt ngân sách vẫn cứ đều đặn khoảng 5% mỗi năm. Nghĩa là chi ngân sách cũng phải vượt dự toán vài chục phần trăm. Có vô số ví dụ cho thấy kỷ luật chi ngân sách ở ta lỏng lẻo đến mức nào" - Ts Vũ Đình Ánh.

VietNamNet giới thiệu phần tiếp bàn tròn "Ngân sách Nhà nước trước áp lực nợ công" với chuyên gia kinh tế cao cấp của Ngân hàng Thế giới tại VN và Ts Vũ Đình Ánh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thị trường - Giá cả, Bộ Tài chính.

Lập dự toán thấp để được thưởng vì vượt thu cao
Nhà báo Việt Lâm:Đúng là nhà nghèo thì phải đi vay mượn. Nhưng nếu nhà nghèo mà vung tay quá trán thì rất đáng lo. Nhiều ĐBQH đã lên tiếng lo ngại về tình trạng kỷ cương ngân sách lỏng lẻo. Tôi xin trích lời phát biểu của ĐB Trần Du Lịch: “Tôi không thấy ở đâu sử dụng ngân sách tùy tiện như ở nước mình, có lần tôi đi thăm một nước vào cuối tháng 12 họ không mời được cơm vì ngân sách chưa có, còn nước ta thì ăn nhậu vô tội vạ, thậm chí quyết toán được hết”. Tại sao lại có tình trạng này, thưa ông?
Ts Vũ Đình Ánh: Là người làm trong lĩnh vực tài chính gần hai chục năm và quan sát cả cấp TƯ lẫn địa phương, tôi rất chia sẻ với lo ngại của ĐB Trần Du Lịch về kỷ luật ngân sách. Không những kỷ luật chi mà cả kỷ luật thu ngân sách của chúng ta đều có vấn đề.
Chúng ta thường xuyên kêu ca về nạn thất thu ngân sách, trốn lậu thuế. Nhưng vấn đề ở chỗ người ta thường xây dựng một dự toán thu ngân sách ở địa phương rất thấp để họ có thể vượt dự toán thu đó. Nhờ khoản vượt thu này mà họ được thưởng. Nói cách khác, họ cố tình kéo dự toán thu thấp hơn khả năng đạt được. Thêm vào đó, những địa phương này còn có dư địa rất lớn để đạt được dự toán cho năm sau. Dư địa này là khoản thất thu ngân sách và trốn lậu thuế mà các địa phương này chỉ cần tăng cường kỷ luật thì sẽ thu được rất cao.
Tình trạng bất cập này tạo ra một hiện tượng thú vị. Đó là, thu ngân sách nhà nước chưa bao giờ là không vượt dự toán, thậm chí có những năm vượt dự toán trên 30%. Thậm chí nếu bắt những nơi này vượt dự toán cả 50%, họ vẫn làm được và vẫn còn dư địa để năm sau tiếp tục vượt thu ngân sách. Rõ ràng kỷ luật thu ngân sách của chúng ta có vấn đề. Không chỉ về trình độ năng lực mà vấn đề là chúng ta tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người nghiêm túc và không nghiêm túc nộp ngân sách nhà nước.
Điều đáng kinh ngạc là nếu giả định vượt thu ngân sách so với dự toán là thành tích, nỗ lực của các đơn vị thực thi, hay còn gọi là đơn vị hành thu theo thuật ngữ chuyên môn, thì tại sao chi ngân sách cũng vượt dự toán rất nhiều? Bất kể thu ngân sách có vượt vài chục phần trăm so với dự toán nhưng rốt cuộc thâm hụt ngân sách vẫn cứ đều đặn 4,8-5% GDP mỗi năm. Nghĩa là chi ngân sách cũng phải vượt dự toán vài chục phần trăm thì mới cho ra chênh lệch thu chi như vậy.
Ngay từ tổng chi ngân sách chúng ta đã không tuân thủ đúng kỷ cương như vậy. Nếu rà soát đến từng khoản chi cụ thể của từng đơn vị cụ thể, tôi tin chúng ta sẽ phát hiện vô số những ví dụ để thấy kỷ luật chi ngân sách lỏng lẻo đến mức độ nào.
Câu hỏi đặt ra là chúng ta không thiếu hệ thống để kiểm tra, kiểm soát chi tiêu công như hệ thống kho bạc nhà nước, hệ thống Kiểm toán trực thuộc Uỷ ban Thường vụ QH. Vậy tại sao tình trạng thất thoát, lãng phí các khoản chi cho đầu tư phát triển và chi thường xuyên vẫn diễn ra như các đại biểu QH phải lên tiếng
Vấn đề nằm ở đâu? Tôi cho rằng nó bắt nguồn từ bất cập trong chính việc xây dựng các định mức về kinh tế - kỹ thuật liên quan đến các khoản chi đầu tư phát triển cũng như chi thường xuyên.
Đơn cử một ví dụ: rất nhiều người nói với tôi, khi đi địa phương thì thông thường địa phương sẽ có một khoản chi lấy từ ngân sách. Nhưng vì định mức của tôi chỉ được từng này tiền nên tôi không thể ở khách sạn mà địa phương bố trí. Cho nên nếu tôi đi công tác một ngày thì họ sẽ phải làm giấy tờ cho tôi đi hai ngày để lấy tiền công tác phí một ngày dôi ra kia mới đủ trả cho một đêm khách sạn mà địa phương đã bố trí. Tương tự, định mức công tác phí chỉ đủ tiền cơm, nên nếu tôi muốn uống bia thì chỉ có cách khai thêm tôi ăn cơm hai lần để lấy một lần không ăn kia thanh toán cho tiền bia. Còn rất nhiều ví dụ minh hoạ nữa mà những người thụ hưởng ngân sách có thể nêu ra sinh động hơn nhiều.
Tóm lại, những chuyện này cuối cùng dẫn đến cái gọi là vô kỷ luật trong chi ngân sách mà chúng ta ai cũng biết, ai cũng làm nhưng không sao cả.
ăn nhậu, nợ công, ngân sách nhà nước
Chuyên gia kinh tế cao cấp của WB, Ts Habib Rab và Ts Vũ Đình Ánh. Ảnh: Lê Anh Dũng
Siết kỷ luật ngân sách bằng cách nào?
Việt Lâm: Trong bài viết trên VietNamNet của ông Habib Rab, ông có khuyến nghị rằng dự luật ngân sách nhà nước sửa đổi lần này phải xem xét đến các biện pháp xiết chặt kỷ luật ngân sách. Theo ông thì có những giải pháp khả thi nào để siết lại kỷ cương ngân sách của VN?
Ts Habib Rab: Có nhiều khía cạnh khác nhau trong kỷ luật tài khóa, trong đó có chất lượng chi tiêu. Nhóm WB cũng đã thực hiện một số nghiên cứu cho thấy VN đã có kỷ luật chi ngân sách tốt hơn trong một số lĩnh vực, đảm bảo chi ngân sách sát với dự toán được phê duyệt. Nói cách khác, chất lượng chi đã cải thiện hơn.
Đối với dự luật ngân sách sửa đổi lần này, chúng tôi khuyến nghị về việc sử dụng nguồn vượt thu như thế nào. Một là, số vượt thu phải được dùng để giảm bớt thâm hụt ngân sách.
Hai là, số vượt thu phải đưa vào dự toán ngân sách chung để quốc hội phê duyệt cho năm sau. Còn trong trường hợp nửa đầu năm chúng ta thu ngân sách vượt dự toán mà nảy sinh thêm một số nhu cầu hoặc ưu tiên chi ngân sách thì chính phủ và Quốc hội phải cân nhắc có một quy trình dự toán ngân sách bổ sung vào giữa năm. Theo đó, chính phủ và quốc hội sẽ cân nhắc có phê duyệt những khoản chi bổ sung này hay không.
Ba là, nếu dự toán ngân sách có những thay đổi lớn trong năm thì cần phải đưa ra các cơ quan lập pháp để phê duyệt. Nếu không, chúng ta sẽ làm xói mòn trách nhiệm giải trình trước các cơ quan lập pháp, tức là quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp.
Tuy nhiên, điều căn bản là làm sao đảm bảo minh bạch trong ngân sách nhà nước, như ông Ánh đã phân tích. Nói cách khác, các khoản chi ngân sách cần được báo cáo rõ ràng và truyền đạt thông tin cho công chúng theo cách mà họ có thể hiểu được để họ có thể chất vấn.
Nói gì thì nói, chính phủ VN đã đạt được nhiều bước tiến về mặt công khai thông tin so với cách đây 10-15 năm. Giờ đây, khi VN bước vào một giai đoạn phát triển mới thì mức độ công khai thông tin cho công chúng cần phải cao hơn nữa.
Ts Vũ Đình Ánh: Những đề xuất của ông Habib Rab vừa hợp với thông lệ quốc tế, vừa giúp VN tăng cường kỷ luật ngân sách. Nhưng tôi cũng muốn nói thêm rằng trên thực tế VN có làm theo những thông lệ này, nhưng tiếc là chỉ làm một nửa.
Ví dụ, họ cũng quy định số vượt thu phải tính vào dự toán năm sau. Cụ thể trong dòng về dự toán cũng như quyết toán có một khoản gọi là thu kết chuyển, thể hiện khoản vượt thu so với dự toán. Làm vậy là đúng rồi, nhưng điều đáng nói là người ta bỏ quên mất vế đầu. Đáng ra, phần vượt thu cần được sử dụng để giảm thâm hụt ngân sách thì họ lại không làm.
Ý của ông Habib về việc tăng trách nhiệm giải trình trước Quốc hội và HĐND các cấp thì VN cũng đang vận động theo hướng tăng quyền lực cho các cơ quan dân cử. Đây là hướng đi rất đúng đắn, nhưng trên thực tế còn rất nhiều khó khăn. Trong hơn 10 uỷ ban của QH, chỉ có duy nhất UB Tài chính – Ngân sách chuyên trách về vấn đề ngân sách. Nhưng không phải tất cả các thành viên của UB Tài chính – Ngân sách đều am hiểu sâu sắc về lĩnh vực này, chưa kể rất nhiều đại biểu phải kiêm nhiệm. Thời gian, sức lực họ giành cho công việc khó khăn, quan trọng là giám sát điều hành ngân sách không hề dễ dàng. Vậy ai sẽ giúp họ? Chính là những chuyên viên. Theo tôi được biết, bộ phận giúp việc quan trọng nhất ở UB Tài chính ngân sách là Vụ Tài chính ngân sách, hiện có hơn 20 chuyên viên.
Tôi cho rằng với lực lượng như vậy, kết cấu như vậy, việc phối hợp giữa các cơ quan giám sát dân cử với các cơ quan chính phủ, thậm chí với tổ chức chính trị –xã hội là đại diện cho nhân dân còn rất lỏng lẻo. Chúng ta có gần mười cơ quan giám sát, thanh tra của VN, chuyên ngành và không chuyên ngành trong chừng mực mất định đều đụng chạm đến kỷ luật ngân sách. Nhưng bởi thiếu một hệ thống thông tin, một cơ chế phối kết hợp giữa những cơ quan này nên rốt cuộc vừa chồng chéo, trùng lặp, vừa hiệu quả không cao.
Đấy là một thực tại cần được nhìn nhận. Khi trao thêm quyền lực cho các cơ quan dân cử để giám sát kỷ luật ngân sách thì chúng ta phải làm gì để họ thực hiện tốt chức trách. Không thể vì khó làm mà bỏ. Tránh trường hợp như bây giờ QH đang bàn và lập luận rằng bỏ HĐND cấp quận huyện vì họ không làm được việc gì cả. Nếu đánh giá thực trạng như hiện tại thì đúng là họ gần như không làm được gì. Nhưng tại sao chúng ta không giả định nếu tăng thêm nguồn lực con người, tăng thêm khả năng trình độ cho họ thì họ sẽ làm tốt vai trò của mình. Đây là một bài toán nên được bàn bạc một cách sòng phẳng.
ăn nhậu, nợ công, ngân sách nhà nước
Ts Habib Rab, chuyên gia kinh tế cao cấp của WB. Ảnh: Lê Anh Dũng
Việt Lâm: Có lẽ cũng nhờ độ minh bạch thông tin của Chính phủ về tình hình ngân sách tốt hơn nên công chúng quan tâm nhiều hơn. Nhưng rõ ràng như Ts Ánh đã đề cập, vấn đề ngân sách mang tính chuyên môn khá phức tạp, nên không phải ai cũng hiểu được, ngay cả với các ĐBQH. Muốn họ thực thi được vai trò giám sát kỷ luật ngân sách thì phải nâng cao năng lực các cơ quan dân cử, tức là cần nguồn đầu tư hay gì khác, theo anh?
Ts Vũ Đình Ánh: Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định rằng chúng ta đã có bước tiến vượt bậc về độ công khai ngân sách. Thậm chí, chúng ta đưa ra những quy định rất cụ thể. Ví dụ, cuối năm hoặc đầu năm sau cơ quan tôi dán một bảng công khai ngân sách. Tôi được biết nhiều UBND phường cũng dán bảng ngân sách này. Nhưng thú thực, tôi đọc bản công khai ngân sách đó mà không hiểu gì cả, dù đã có hai thập kỷ nghiên cứu về tài chính. Vậy đối với những người ít tiếp xúc với tài chính ngân sách thì họ làm sao hiểu được những bản công khai ngân sách này? Rốt cục, chúng ta đã biến một thông lệ rất hay trở thành hình thức.
Một cách sòng phẳng, dường như chúng ta mới công khai nhưng chưa minh bạch. Chẳng hạn, tôi muốn biết tại sao có khoản chi này thì người ta lại không trả lời tôi. Đây là một câu chuyện lớn về công khai minh bạch của VN.
Về năng lực của các cơ quan dân cử, tôi cho rằng không có gì đáng quan ngại bởi đó là đặc thù của VN. ĐBQH của VN đến từ nhiều ngành nghề khác nhau, họ không phải đại biểu chuyên trách, không phải là những người cái gì cũng biết và đằng sau họ không có bộ máy khổng lồ vận hành phục vụ mục tiêu họ là một nghị sỹ quốc hội. Rất nhiều người là đại biểu kiêm nhiệm. Do đó, chúng ta không thể đòi hỏi tất cả đại biểu cũng như người dân VN phải thông thạo về tài chính ngân sách, một vấn đề khá phức tạp.
Vậy thì làm thế nào để cải thiện tình trạng này? Một mặt hãy tăng số lượng đại biểu chuyên trách lên. Mặt khác, họ phải có bộ máy giúp việc. Bộ máy này làm nhiệm vụ thu thập thông tin và phải có đủ trình độ xử lý những thông tin liên quan đến ngân sách.
Chúng ta hoàn toàn có thể làm được việc này thông qua việc sắp xếp lại bộ máy tổ chức. Chúng ta có cả một bộ máy đồ sộ gồm các cơ quan Đảng, chính phủ, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội lớn như Mặt trận Tổ Quốc, Đoàn Thanh Niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ... Gần như bên chính phủ có gì thì bên các tổ chức chính trị –xã hội có cái đó. Nếu sắp xếp lại thì thừa sức tổ chức được bộ phận giúp việc cho các ĐBQH và sau đó là các đại biểu HĐND, đặc biệt là những người làm chuyên trách để họ nắm vững được và thực thi chức năng giám sát tối cao đối với vấn đề ngân sách nhà nước một cách hiệu quả hơn.
Tất nhiên là không thể ngày một ngày hai làm được việc này. Trong một số cuộc tiếp xúc với các các ĐBQH, khi tôi chia sẻ với họ những nhận định của tôi về vấn đề ngân sách, khá nhiều người bảo: Cậu nói hay đấy. Chỉ có điều tôi không biết liệu nhiệm kỳ tới tôi còn làm ĐBQH nữa hay không? Nên bây giờ tìm hiểu những vấn đề cậu nêu có khi chẳng để làm gì. Vậy đầu tiên đại biểu cần hiểu được tại sao họ phải hiểu về ngân sách đã. Khi đó, họ sẽ tự động đi tìm và không thiếu các kênh để họ tìm hiểu.
Chúng ta đừng lo ngại chuyện tốn kém chi phí để nâng trình độ ĐBQH lên. Bởi vì đây là sự đầu tư vô giá và thiết yếu cho đất nước hiện nay.
Dân đóng thuế nuôi bộ máy nên có quyền đòi Chính phủ giải trình
Ts. Habib Rab: Có 3 yếu tố chính để xem xét mức độ tiếp cận thông tin về ngân sách của Quốc hội và công chúng nói chung. Một là công khai thông tin, tức là cung cấp thông tin cho công chúng về ngân sách. Hai là mức độ tham gia của người dân vào quản lý ngân sách, nghĩa là họ sử dụng thông tin như thế nào, phản hồi ra sao về quản lý ngân sách của chính phủ. Ba là, đảm bảo trách nhiệm giải trình. Chính phủ sử dụng tiền thuế của dân để cung cấp các dịch vụ công, do đó, họ phải giải trình trước dân một cách minh bạch về các chi tiêu của mình.
Quan điểm của chúng tôi là VN đã đạt được những tiến bộ rất đáng kể trong khía cạnh công khai thông tin. Hiện thông tin về ngân sách đã công khai khá cụ thể so với trước đây.
Ở khía cạnh thứ hai, chính phủ cũng đã có nhiều nỗ lực và hành động để tăng mức độ tham gia của người dân. Có thể thấy người dân đã có nhiều thông tin hơn và họ bắt đầu đặt các câu hỏi chất vấn. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực cần có những bước tiến nhanh hơn nữa.
Vậy làm thế nào để đạt được những bước tiến nhanh hơn? Ngoài giải pháp nâng cao năng lực cho các cơ quan dân cử như ông Ánh đã nói, thì bản thân chính phủ phải có trách nhiệm cải thiện hiệu quả trong trao đổi, truyền đạt thông tin tới công chúng. Chúng ta cũng biết là tài liệu ngân sách rất dày và nhiều thuật ngữ phức tạp. Chính phủ phải làm sao để truyền đạt thông tin theo cách mà công chúng hay Quốc hội có thể hiểu được. Tất nhiên không phải là theo kiểu đơn giản hoá hay tầm thường hoá vấn đề.
Theo Vietnamnet:
http://vietnamnet.vn/vn/ban-tron-truc-tuyen/208695/-an-nhau-vo-toi-va-van-quyet-toan-duoc-het-.html