Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014

Bầu Kiên bị đề nghị 30 năm tù


 
Phiên tòa xét xử vụ ACB đã bị hoãn hai lần vì các lý do khác nhau
Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị tòa xử phạt ông Nguyễn Đức Kiên (còn gọi là Bầu Kiên), tổng cộng 30 năm tù vì các tội Kinh doanh trái phép, Trốn thuế, Lừa đảo, và Cố ý làm trái. Đây là mức án tối đa cho các tội bị phạt án tù, VnExpress đưa tin.
Đại diện Viện Kiểm sát cho rằng ông Kiên đã không thành khẩn nhận tội, có thái độ coi thường pháp luật, nên cần phải “cách ly khỏi xã hội trong một thời gian dài”, Tuổi Trẻ cho biết.
Ngoài ra, ông Kiên còn bị buộc nộp phạt khoảng 50-75 tỷ đồng vì tội trốn thuế và 25-30 triệu đồng vì tội kinh doanh trái phép.
Ông Lý Xuân Hải, nguyên Tổng giám đốc ngân hàng Á Châu (ACB), bị đề nghị 12-14 năm tù về tội “Cố ý làm trái quy định nhà nước”. Các nguyên phó chủ tịch hội đồng quản trị Lê Vũ Kỳ, Trịnh Kim Quang lần lượt bị đề nghị án từ 6-8 năm.
Hai ông Phạm Trung Cang (cựu phó chủ tịch HĐQT ACB) và Huỳnh Quang Tuấn (cựu phó tổng giám đốc ACB) được đề nghị ba năm tù cho hưởng án treo.
Hai tội khiến ông Kiên bị đề nghị phạt tù nặng nhất là Cố ý làm trái (14-15 năm) và Lừa đảo, chiếm đoạt tài sản (16-18 năm tù).
Phát biểu tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nói ông Kiên chỉ đạo chuyển nhượng 20 triệu cổ phần đã thế chấp cho Công ty cổ phần thép Hòa Phát để chiếm đoạt 264 tỷ đồng (khoảng 13 triệu đôla) của công ty này.
Đây là số tiền “đặc biệt lớn” và “đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Tuổi Trẻ dẫn lời.
Về tội Cố ý làm trái, kiểm sát viên cho rằng chủ trương ủy thác cho 19 nhân viên gửi hơn 718 tỷ đồng vào Vietinbank (sau đó đã bị một trưởng phòng giao dịch của Vietinbank là bà Huỳnh Thị Huyền Như chiếm đoạt) và đầu tư mua cổ phiếu trên thị trường là vi phạm pháp luật, gây thất thoát hơn 1.400 tỷ đồng cho ACB. Ông Kiên được xác định là đã “tham gia và cho ý kiến” về các chủ trương này.
Các tội kinh doanh trái phép và trốn thuế của ông Kiên có liên quan đến việc hoạt động kinh doanh vàng trên thị trường của ông này. Cụ thể, trong giai đoạn 2007-2012 ông Kiên thành lập sáu công ty để “kinh doanh tài chính và kinh doanh vàng trạng thái trái phép”, với số tiền lên tới hơn 21.490 tỷ đồng (một tỷ đôla).
Trong đó, công ty B&B của ông Kiên thu lãi hơn 100 tỷ đồng trong năm 2009, nhưng đã trốn không nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (25 tỷ đồng).
Ông Nguyễn Đức Kiên hiện phủ nhận tất cả các cáo trạng trên.
“Tôi bị buộc tội bốn tội danh trong khi cá nhân tôi trong 20 tháng qua đã có nhiều đơn, nhiều lần trả lời bản cung cơ quan điều tra, tôi cho rằng tôi không có tội, tôi bị oan,” ông Kiên nói.
Một bị cáo khác, ông Trần Xuân Giá, cựu Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư, nguyên Chủ tịch hội đồng quản trị Ngân hàng ACB, đã được tạm đình chỉ điều tra với lý do "mắc bệnh hiểm nghèo".

Theo BBC:
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/05/140527_de_nghi_muc_an_bau_kien.shtml

Công an nhận sai sót


  Chiều 26-5-2014, đại tá Phan Hữu Thúy - chánh văn phòng, người phát ngôn Công an tỉnh Sóc Trăng - khẳng định sáu người gồm Trần Hol, Trần Cua, Thạch Sô Phách, Thạch Mươl, Khâu Sóc, Trần Văn Đở không phạm tội giết người và Nguyễn Thị Bé Diễm không phạm tội che giấu tội phạm.
Cơ quan điều tra đã trao quyết định đình chỉ điều tra cho bảy người này và xác định họ bị bắt tạm giam là oan sai.
Mừng không ngủ được
Sáng sớm 26-5, Trần Văn Đở đã đến cơ quan công an nhận quyết định đình chỉ điều tra bị can. Cầm quyết định trên tay, Đở rơm rớm nước mắt. Còn Thạch Mươl cho biết công an tỉnh gọi điện mời về nhận quyết định đình chỉ điều tra bị can, lúc này Mươl đang đi làm thuê ở Bình Dương. “Khi nhận được điện thoại tôi có cảm giác lâng lâng, ngay buổi chiều tôi đón xe đò về quê liền. Cả tối đó không ngủ được, mong trời mau sáng. Tôi muốn cơ quan chức năng làm theo đúng thủ tục để trả lại sự trong sạch cho tôi” - Thạch Mươl tâm sự.
Khi đến cơ quan cảnh sát điều tra nhận quyết định đình chỉ điều tra bị can, cả Sô Phách và Trần Hol đều không có tiền. Sô Phách phải cầm chiếc điện thoại lấy 100.000 đồng để đổ xăng, còn Trần Hol mượn được người quen 100.000 đồng để mang theo. Do quá vui nên cả hai tranh thủ đến sớm ngồi uống cà phê ở quán cóc, ăn cơm bụi kế bên cơ quan công an chờ đến đầu giờ chiều để nhận quyết định. “Khi tụi tôi bị bắt, ở quê ai cũng biết và ai cũng cho rằng tụi tôi giết người dù đã được thả. Bây giờ, tôi muốn công an cũng phải thông báo cho địa phương biết rằng tôi vô tội và bồi thường ngày công lao động những ngày bị bắt tạm giam” - Sô Phách nói.
Tỉnh chỉ đạo tổ chức kiểm điểm
Kể lại quá trình khởi tố vụ án trước đây, đại tá Phan Hữu Thúy cho biết ngày 6-7-2013, Công an tỉnh Sóc Trăng nhận được tin báo có vụ án giết người từ huyện Trần Đề nên tập trung lực lượng nghiệp vụ điều tra. Qua điều tra ban đầu, công an xác định Trần Hol là chủ mưu vụ giết anh Lý Văn Dũng, ngụ thị trấn Trần Đề, để cướp của, các đối tượng còn lại là tòng phạm. Một số đối tượng lúc đầu không thừa nhận nhưng sau đó đã nhận tội. Trên cơ sở đó, các đối tượng bị tạm giữ, sau đó bị khởi tố và bắt tạm giam để điều tra hành vi giết người.
Trong lúc bảy bị can đang bị tạm giam thì ngày 18-11-2013, Lê Mỹ Duyên (13 tuổi, ngụ TP Rạch Giá, Kiên Giang) đã đến Công an TP.HCM đầu thú, thừa nhận hành vi giết nạn nhân Dũng. Sau đó Duyên khai ra Phan Thị Kim Xuyến (15 tuổi, ngụ huyện Trần Đề) cùng tham gia vụ án. Xuyến bị bắt tạm giam để điều tra hành vi giết người và cướp tài sản, còn Duyên do chưa đủ 14 tuổi nên cơ quan điều tra chỉ làm thủ tục đưa vào trường giáo dưỡng.
Ông Thúy thừa nhận lúc hai đối tượng nữ ra đầu thú, cơ quan tố tụng còn lưỡng lự, nghi hai đối tượng này đứng ra nhận tội thay cho nhóm kia để bị xử lý nhẹ vì chưa đến tuổi thành niên. Do đó công an chưa ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can mà chỉ cho tại ngoại. Nhưng qua điều tra cặn kẽ thì xác định Duyên và Xuyến là người thực hiện hành vi phạm tội, có chứng cứ thuyết phục.
Về chuyện sau khi được cho tại ngoại, nhiều người cho biết mình liên tục bị đánh đập và đối xử không tốt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe... đại tá Thúy cho biết qua thanh tra chưa phát hiện động cơ cá nhân, không có tiêu cực và không có cơ sở cho rằng có hành vi bạo lực, đánh đập đối với nhóm bảy người trên. Công an tỉnh Sóc Trăng chỉ thừa nhận thiếu sót trong việc khám nghiệm hiện trường, tử thi; chưa sử dụng hết các biện pháp nghiệp vụ của công an, quá tin vào lời khai của nhân chứng và các đối tượng, không đối chiếu so sánh, củng cố với các chứng cứ khác. “Tất cả vấn đề trên đã dẫn đến việc bắt, khởi tố, tạm giam các đối tượng trên là vội vàng, thiếu căn cứ, dẫn đến oan sai” - đại tá Thúy nhìn nhận.
Đại tá Thúy cho biết Đảng ủy, giám đốc công an tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị, cá nhân liên quan tổ chức kiểm điểm, xác định vai trò trách nhiệm, hành vi sai phạm của từng người, kể cả phó giám đốc, thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra. Việc xử lý phải nghiêm minh, không bao che giấu giếm, sai đến đâu phải xử lý tương xứng đến đó. Riêng trường hợp oan sai sẽ giao thủ tưởng cơ quan cảnh sát điều tra phối hợp với các cơ quan chức năng có biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật.
Được biết trong ngày 26-5, cán bộ của Viện KSND tối cao và Bộ Công an đến làm việc tại Sóc Trăng về vụ việc này.
Theo Tuổi Trẻ:
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Phap-luat/609500/cong-an-nhan-sai-sot.html


Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2014

Thủ tướng viết blog

Thủ tướng viết blog mời gọi nhà đầu tư

- Trên trang web của Diễn đàn Kinh tế thế giới, mục blog đăng tải bài viết của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với tựa “Việt Nam - Điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư”. 
Trong bài viết, Thủ tướng cho hay, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động kinh tế đối ngoại quan trọng của VN. 
Không chỉ có nhiều lợi thế và môi trường đầu tư hấp dẫn, VN còn đang nỗ lực viết tiếp câu chuyện thành công trong thu hút FDI bằng cam kết mạnh mẽ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, coi khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng cấu thành của nền kinh tế, đồng thời xem FDI là một nhân tố quyết định để tái cơ cấu nền kinh tế và tăng sức cạnh tranh quốc gia.
diễn đàn kinh tế, FDI, FTA, WTO, TPP, Thủ tướng
Theo Thủ tướng, tính đến tháng 4/2014, số dự án FDI còn hiệu lực ở VN là trên 16.300, với tổng vốn đầu tư thực tế khoảng 238 tỷ USD. Đã có khoảng 100 nước và vùng lãnh thổ có các dự án đầu tư, và trên 100 tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới có mặt tại VN. Năm 2013, vốn FDI vào VN đạt hơn 22 tỷ USD, tăng trên 35% so với 2012.

Môi trường đầu tư hấp dẫn

Thủ tướng nhấn mạnh tiềm năng VN đang ở thời kỳ cơ cấu dân số “vàng” với 60% người dân trong độ tuổi lao động; có vị trí địa lý thuận lợi, nằm ở trung tâm của khu vực Đông Á, nơi tập trung của nhiều nền kinh tế lớn và năng động.
diễn đàn kinh tế, FDI, FTA, WTO, TPP, Thủ tướng
VN là nền kinh tế thị trường, là thành viên WTO, đã và đang tham gia nhiều khuôn khổ liên kết kinh tế quốc tế, trong đó có các FTA với các đối tác trong và ngoài khu vực, đặc biệt đang tích cực tham gia đàm phán Hiệp định xuyên Thái Bình Dương (TPP).

“Chính phủ VN luôn cam kết và hành động nhằm tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi và bình đẳng cho các nhà đầu tư nước ngoài cũng như không ngừng cải thiện khuôn khổ luật pháp và thể chế phục vụ cho các hoạt động kinh doanh và đầu tư. Bên cạnh đó, nỗ lực triển khai lộ trình tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, trong đó có nỗ lực mạnh mẽ để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia” - Thủ tướng viết.

Thủ tướng cho hay, ưu tiên của VN sẽ hướng vào nguồn vốn FDI “chất lượng cao”, cụ thể là các dự án có công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, có khả năng tham gia vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Theo đó, Chính phủ VN đặt trong tâm vào 3 lĩnh vực “đột phá chiến lược”: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và khung khổ pháp luật; xây dựng hệ thống kết cầu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nhất là hạ tầng giao thông; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

“Chính phủ VN cam kết bảo đảm môi trường chính trị - xã hội ổn định, bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của các nhà đầu tư, cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp FDI hoạt động tại VN” - Thủ tướng viết.

"Theo dự báo của nhiều tổ chức quốc tế, cùng với sự phục hồi của kinh tế thế giới, các dòng vốn FDI đang dần phục hồi và sẽ gia tăng tại các nền kinh tế năng động. Với triển vọng tích cực của kinh tế toàn cầu và khu vực, chúng tôi chào đón các nhà đầu tư nước ngoài, hoan nghênh các bạn tiếp tục lựa chọn Việt Nam và tin tưởng chắc chắn các bạn sẽ thành công tại đất nước chúng tôi" - trích từ bài viết của Thủ tướng đăng trên blog của Diễn đàn Kinh tế thế giới về Đông Á 2014.
Theo Vietnamnet:
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/176878/thu-tuong-viet-blog-moi-goi-nha-dau-tu.html

Thứ Tư, 21 tháng 5, 2014

Biển Đông: Có âm mưu ngầm phá hoại, khiêu khích?

Biển Đông: Có âm mưu ngầm phá hoại, khiêu khích?

  Người dân chỉ mong tất cả đều bình tĩnh và sáng suốt. Đoàn kết là sức mạnh, nhưng phải là sự đoàn kết có tri thức. Chúng ta chỉ lên án nhà cầm quyền Bắc Kinh, chứ những người dân TQ yêu hòa bình là bạn của chúng ta.
"Mồi lửa nhỏ" của hai Thế chiến
Sự việc Đại công tước Franz Ferdinand của Áo - Hung bị một phần tử dân tộc chủ nghĩa người Serbia tên là Gavrilo Princip ám sát tại Sarajevo vào ngày 28/6/1914 được coi là "giọt nước tràn ly" châm ngòi cho cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai cũng bắt đầu từ những sự kiện rất nhỏ như làn sóng bài ngoại (người Đức và người nói tiếng Đức) ở các vùng lãnh thổ lúc đó thuộc Tiệp Khắc, và sau này là Ba Lan.
Cả hai cuộc chiến tranh đều có những nguyên nhân lớn, sâu xa, là những mâu thuẫn đối nội của các quốc gia và mâu thuẫn giữa các quốc gia có quyền lợi không đồng đều về thuộc địa và tầm ảnh hưởng trên thế giới không thể dung hòa được. Trên thế giới xuất hiện một thế lực mới tham gia vào bàn cờ địa chính trị và nhanh chóng đẩy một số sừng sỏ cũ về xâm chiếm thuộc địa trở thành những huyền thoại của quá khứ.
Đó là trường hợp của nước Mỹ và điển hình thể hiện ở những cuộc chiến tranh của nước này với Tây Ban Nha. Sau những cuộc xung đột giữa hai quốc gia này, Puerto Rico và Philipinnes từ thuộc địa Tây Ban Nha trở thành những thành viên của Thịnh vượng chung Hoa Kỳ. Hai cuộc đại chiến thế giới, đều có yếu tố can dự của Hoa Kỳ và đều có yếu tố muốn trở thành một thế lực bá chủ của nước Đức.
Chúng ta còn phải nhớ một điều là cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra chỉ bắt đầu bằng những xung đột quân sự hạn chế, mang tính cục bộ, "Cuộc chiến tranh kỳ lạ"; khi mà các nước Đế quốc Anh, Pháp... ký hiệp ước bảo vệ Tiệp Khắc, tuyên chiến với Đức sau khi Tiệp Khắc bị xâm lược, nhưng hoàn toàn không làm gì cả. Hoa Kỳ chỉ thực sự tham chiến sau sự kiện trận Trân Châu Cảng tháng 12/1941; và cũng chỉ hạn chế đánh nhau với Nhật, hỗ trợ vật chất khí tài cho Anh và Liên Xô (với Liên Xô là các hợp đồng "thuê mượn" (lend-lease) và đều phải thanh toán bằng vàng ròng).
Giàn khoan, HD-981, Hải Dương-981, biển Đông, ASEAN, TQ, COC, DOC, yêu nước, tuần hành, vòi rồng, bành trướng, chiến tranh, Trường Sa, Hoàng Sa, chủ quyền, độc lập dân tộc, kiểm ngư viên, biển đảo, hàng xóm, hải quân, cảnh sát biển VN, tòa án quốc tế, luậ
Giàn khoan Hải Dương 981 của TQ. Ảnh: THX
Trung Quốc muốn trở thành một thế lực
Dường như, trong sự lớn mạnh về kinh tế của Trung Quốc, đã hội đủ tất cả những điều kiện để họ tham dự vào một cuộc chiến mới. Trong bài viết Giàn khoan: TQ mưu toan một mũi tên trúng đích nào?, tôi đã bàn về những vấn đề nội tại của TQ hiện nay và cả những mong muốn của lãnh đạo TQ trong giai đoạn đầu thế kỷ 21 đầy thách thức này. Ở đây, tôi xin điểm lại một chút những chi tiết của lịch sử liên quan đến cái gọi là "mong muốn của lãnh đạo TQ".
Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ khi lập quốc, ngày 1/10/1949 đến nay, đã chưa bao giờ thực sự đứng trong một liên minh khăng khít về mọi mặt. Hay nói cách khác, TQ có thể thu nạp các chư hầu theo kiểu thích cho sống thì sống, thích cho chết thì chết, chứ không hề thích đứng dưới trướng ai, càng không thích chư hầu lớn mạnh.
Vì thế mà nếu như với Nam Tư tách ra khỏi khối XHCN ở Đông Âu để theo đuổi một đường lối phát triển riêng, thì TQ cũng lại tách ra khỏi hệ thống, nhưng theo cách đối đầu, đối đầu với Liên Xô. Quan hệ rạn nứt từ thời "Bác Stalin - Bác Mao" kéo tiếp đến thời Khrushev và đỉnh điểm chính là cuộc xung đột biên giới VN - TQ năm 1979.
Cũng trong thời gian đó, TQ có những bước đi ngoại giao mang tính chính trị kinh tế có tính toán rất rõ rệt với Hoa Kỳ, song luôn luôn ở mức quan hệ hạn chế: mở rộng về kinh tế nhưng dè chừng, giữ miếng về quân sự và chính trị.
Hai mươi nhăm năm, đó là mốc thời gian đánh dấu sự chấm dứt tạm thời cuộc đối đầu quân sự VN - TQ kéo dài hơn 10 năm. Thời gian đó đủ để TQ lớn mạnh, xây dựng một nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, trở thàng công xưởng của thế giới và bắt đầu bành trướng trên phạm vi toàn cầu cả về đầu tư kinh tế lẫn nhân lực, một cái nhân lực vô biên đến mức toàn cầu không có đối thủ. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa ảnh hưởng đến kinh tế TQ, vừa đem lại những cơ hội cho hàng hóa sản xuất rẻ về giá thành.
Nếu như nước Nga tìm lại vị thế của mình trong khu vực các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ, thì TQ cũng muốn trở thành một thế lực. Và thế là có những sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 những ngày này.
Giàn khoan, HD-981, Hải Dương-981, biển Đông, ASEAN, TQ, COC, DOC, yêu nước, tuần hành, vòi rồng, bành trướng, chiến tranh, Trường Sa, Hoàng Sa, chủ quyền, độc lập dân tộc, kiểm ngư viên, biển đảo, hàng xóm, hải quân, cảnh sát biển VN, tòa án quốc tế, luậ
Công nhân phản ứng việc kích động bạo lực khiến công ty đóng cửa. Ảnh: Facebook Thiên Định
Bảo về tài sản cho đất nước
Từ hôm 13/5, rộ lên những tin tức về công nhân Bình Dương đập phá nhà máy của người TQ, Đài Loan... Rồi lại nghe thêm những thông tin không chính thức nữa là công nhân VN phần lớn mới chỉ có những hoạt động mang tính đình công để phản đối "vụ giàn khoan Hải Dương 981"; việc đập phá có những nhóm người đáng ngờ thực hiện, nhưng mới dừng ở mức đập phá những thứ dễ gây ấn tượng, song giá trị lại thấp như cửa kính.
Báo chí lâu nay nói nhiều đến việc làn sóng người lao động TQ ồ ạt đổ sang ta - sự mất cân bằng về chất lượng và cả số lượng lao động dẫn đến tình trạng đó, phần lớn lỗi là do VN. Nhưng nếu nhà máy của người TQ đầu tư trên đất nước VN, thì đó là tài sản của VN. Đồng thời theo luật thì công ty có vốn đầu tư nước ngoài thành lập trên lãnh thổ VN là doanh nghiệp VN chứ không phải là doanh nghiệp nước ngoài nữa. Nghĩa là thực tế, nếu có chiến tranh thì họ có muốn mang tài sản về nước, cũng khó mà thực hiện được.
Xin nhắc lại lịch sử, sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, để chấm dứt xung đột quân sự song phương giữa Nga và Đức, lúc này nước Nga Xô-viết (từ thập kỷ 1920 trở đi là Liên Xô) còn phải đàm phán với nước Đức về những tài sản của doanh nghiệp Đức đã đầu tư trên đất nước Nga từ trước chiến tranh. Với VN ta, những câu chuyện về "quốc hữu hóa" hay "công tư hợp doanh" còn như vừa mới hôm qua. Vậy đấy, với người VN, thì những tài sản dù của người TQ đầu tư trên đất nước ta, cũng là của nước VN, và chúng ta có nghĩa vụ phải bảo vệ chúng, cho đất nước, cho tương lai.
Và cũng xin nhắc một vấn đề nữa đã thuộc về lịch sử nhưng không hề lỗi thời. Trước hai cuộc Thế chiến tôi đã lướt qua trên đây, là thời gian của những hoạt động tình báo nhộn nhịp: thu thập tin tức, vận động quan hệ, xui nguyên giục bị, xui Đông giục Tây, ngấm ngầm phá hoại, khiêu khích chia rẽ... Chúng ta không vội kết luận điều gì, nhưng tại sao những điều đó lại không có thể đang xảy ra trên đất nước chúng ta?
Hai mươi nhăm năm cũng là mốc kỷ niệm sự kiện Thiên An Môn (tháng 4-6/1989), TQ có vẻ cũng đang cần một cuộc xung đột quân sự mới để làm "cú hích", vừa dẹp yên đối nội, vừa tạo đà phát triển trong giai đoạn mới. Có thể, họ chỉ muốn một cuộc xung đột hạn chế mang tính cục bộ hoặc khu vực - điều này chỉ có thời gian mới có thể trả lời được. Nhưng chúng ta cũng có thể đoán được vài chi tiết.
Khi gây hấn đến mức ngang ngược như vậy, chắc chắn, họ phải tính đến khả năng xung đột quân sự. Chắc hẳn giữ chỗ nào, đánh chỗ nào, họ có kế hoạch cả rồi. Nhưng làm gì, thì cũng phải tính - vì một hành động quân sự không bao giờ chỉ bó hẹp giữa hai quốc gia cả, mà khả năng lan rộng của nó, bao giờ cũng có.
Trong hai cuộc Thế chiến, Hoa Kỳ can dự dần dần, từng bước... Bởi vậy, trong bối cảnh hiện nay, ngay từ những giai đoạn đầu tiên, đừng hi vọng Hoa Kỳ sẽ tham dự trực tiếp. Nhưng trong tương lai nếu xung đột lan rộng ảnh hưởng đến các quốc gia khác, trong đó có các đồng minh của Hoa Kỳ, thì việc can dự từ gián tiếp đến trực tiếp từng phần không phải là không có khả năng.
Và xin đừng quên nước Nga, một đất nước vốn đang tồn tại nhiều tranh chấp biên giới và lãnh thổ với TQ, và cũng hoàn toàn không thích một ông hàng xóm lớn mạnh, lại tiềm tàng sự thay đổi chính sách như chong chóng, nay bạn mai thù như vậy. Nước Nga, can dự vào các sự kiện hiện tại và tương lai trên biển Đông như thế nào, chúng ta cũng hãy chờ xem, nhưng chắc là nếu tình hình không dịu đi, thì chắc là sẽ sớm thôi. Mạnh mẽ, thì chắc là chưa, vì tình hình Đông Ukraina còn đang bận rộn, nhưng thái độ rõ ràng, chắc là cũng sẽ phải bày tỏ.
Lại phải nhắc lại một cuộc xung đột mang tính gây thù chuốc oán nữa - xung đột biên giới năm 1962 của TQ với Ấn Độ, mà bây giờ hàng nghìn cây số vuông vẫn nằm trong tay TQ. Nếu như Tây Tạng luôn tiềm tàng khả năng bất ổn, một cuộc chiến trên biển Đông với VN mà làm nổ ra những biến cố ở Tây Tạng, tại sao Ấn Độ lại đứng ngoài và không nắm lấy cơ hội?
Về đối nội, có vẻ lần này, khác những lần trước, "giàn khoan Hải Dương 981" có khi lại là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình bên trong TQ, chứ không theo hướng "dẹp yên". Thế giới và tình thế đang diễn ra trên nó, đã thay đổi quá nhiều.
Làm cái gì, cũng phải tính toán trước sau - tất cả ai cũng vậy, chắc chắn là ở mức độ quốc gia và quốc tế, các nước đều có những tính toán cân nhắc thiệt hơn. Còn ở mức người dân, chỉ mong tất cả đều bình tĩnh và sáng suốt. Đoàn kết là sức mạnh, nhưng phải là sự đoàn kết có tri thức. Chúng ta chỉ lên án nhà cầm quyền Bắc Kinh, chứ những người dân TQ yêu hòa bình là bạn của chúng ta...
Theo Vietnamnet:
http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/175482/bien-dong--co-am-muu-ngam-pha-hoai--khieu-khich-.html

Trung Quốc cảnh báo các liên minh quân sự ở châu Á

Trung Quốc cảnh báo các liên minh quân sự ở châu Á

Theo hãng tin Reuters, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dường như đã cảnh báo một số quốc gia châu Á về việc củng cố liên minh quân sự nhằm chống lại Trung Quốc, nói rằng việc này không có lợi cho an ninh khu vực.
Tập Cận Bình, Hoa Đông, Biển Đông
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
Tuy nhiên, ông Tập Cận Bình nói rằng, Trung Quốc sẽ giải quyết tranh chấp lãnh thổ một cách hòa bình, đặc biệt là ở biển Đông và biển Hoa Đông.
"Tăng cường liên minh quân sự nhằm vào bên thứ ba là việc làm không có lợi cho việc duy trì an ninh chung trong khu vực" - ông Tập Cận Bình nói.
Trong chuyến công du tới châu Á tháng trước, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tìm cách trấn an các đồng minh khu vực, gồm Nhật Bản và Philippines, rằng việc chuyển hướng chiến lược của Mỹ sang châu Á và Thái Bình Dương là thật.
Tuy nhiên, Trung Quốc luôn coi chiến lược hướng Á của Mỹ là nhằm đối trọng với Bắc Kinh.
Trong bài phát biểu, ông Tập Cận Bình không nêu đích danh Mỹ trong các liên minh quân sự này. Ông Tập cũng tìm cách trấn an lo ngại về các ý đồ của Trung Quốc.
"Trung Quốc vẫn cam kết tìm cách dàn xếp các tranh chấp một cách hòa bình với các quốc gia khác về vấn đề chủ quyền lãnh thổ cũng như quyền và lợi ích hàng hải" - ông Tập Cận Bình phát biểu trong Hội nghị thượng đỉnh về phối hợp hành động và củng cố lòng tin lần thứ 4 tại Thượng Hải hôm 20-21/5.
Tuyên bố của Chủ tịch Trung Quốc đưa ra trong bối cảnh căng thẳng tại biển Đông gia tăng những ngày qua sau khi Bắc Kinh hạ đặt giàn khoan trái phép vào vùng biển Việt Nam và chịu chỉ trích nặng nề từ dư luận quốc tế.
Theo Vietnamnet:
http://vietnamnet.vn/vn/quoc-te/176682/tq-canh-bao-cac-lien-minh-quan-su-o-chau-a.html

Công hàm 1958 và vấn đề chủ quyền ở Hoàng Sa-Trường Sa

Công hàm 1958 và vấn đề chủ quyền ở Hoàng Sa-Trường Sa

 TS Trần Công Trục: "Trung Quốc đã cố tình vận dụng sai Công ước luật biển 1982 để ngụy biện cho hành động sai trái của mình".
LTSBiện minh cho hành động sai trái khi hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, phía Trung Quốc cho rằng đó là hoạt động bình thường trong vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đang chiếm đóng. Ngoài ra, phía Trung Quốc lập luận rằng, với tuyên bố của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa Phạm Văn Đồng năm 1958, Việt Nam đã từ bỏ quyền của mình đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Luật pháp quốc tế có thể rút ra từ đó kết luận gì về pháp lý? Sự thật về "cái gọi là chủ quyền "của Trung Quốc ở Hoàng Sa-Việt Nam là như thế nào?
Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân, một chuyên gia về lịch sử Trung Quốc cho biết, bắt đầu từ Nhà Hán (203TCN - 220 ), Trung Quốc đã có những bộ chính sử do một cơ quan chuyên môn của triều đình biên soạn và công việc này được suy trì cho đến hết thời Nhà Thanh. Tức là mỗi triều đại Phong Kiến ở Trung Quốc đều có những bộ sử riêng như Hán sử, Đường sử, Tống sử, Minh sử.v.v... Một vùng đất thuộc lãnh thổ của Trung Quốc thì phải được biên chép trong "địa lý chí" thuộc các bộ chính sử. Đó là cơ sở để xác nhận sự thiết lập hành chính hoặc đã quản lý. Thế nhưng trong địa lý chí của các bộ chính sử của Trung Quốc đều không có ghi chép về Hoàng Sa và Trường Sa.
Giàn khoan, HD-981, Hải Dương-981, biển Đông, ASEAN, Trung Quốc, COC, DOC, yêu nước, tuần hành, vòi rồng, bành trướng, chiến tranh, Trường Sa, Hoàng Sa, chủ quyền, độc lập dân tộc, công hàm 1958, Phạm Văn Đồng
Ông Phạm Hoàng Quân
Trung Quốc là đất nước có truyền thống về sử hoá lâu đời nhất thế giới nên tư liệu lịch sử nói chung của Trung Quốc rất đồ sộ và tư liệu lịch sử liên quan đến Biển Đông cũng rất nhiều. Và, tất cả các ghi chép của "địa phương chí" trong các bộ chính sử của Trung Quốc về lãnh thổ đều thống nhất thừa nhận vùng đất xa nhất của họ ở cực nam là huyện Nhai, của phủ Huỳnh Châu, đảo Hải Nam.
"Từ đời Hán đến đời Thanh đều có những bộ chính sử của triều đại, các mục địa lý chí chưa từng biên chép gì về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đó là điểm để người ta nhận rằng Trung Quốc chưa từng xem nó thuộc về phần đất của họ. Các phần địa lý chí đều có mục xác nhận các đơn vị hành chính đến Huyện Nhai của phủ Huỳnh Châu, nằm trong phạm vi đảo Hải Nam, không vượt qua đảo Hải Nam. Những tài liệu chỉ rõ những lời tâu, lời chỉ dụ của Hoàng đế hoặc những tấu sớ của các quan cũng thừa nhận đất của Trung Quốc đến Huyện Nhai, những vùng biển phía ngoài là họ không quản lý được vì đó là của những nước khác, vùng biển chung quốc tế. Tức là lúc đó họ không nói hẳn là của ai nhưng họ không thừa nhận là của họ." - ông Quân khẳng định.
Chỉ đến năm 1951, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đề cập về chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa. Ý định ấy kèm theo việc chiếm đóng thực tế một bộ phận vào năm 1956 và toàn bộ quần đảo này năm 1974. Tháng Giêng năm 1974, lực lượng vũ trang Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa. Ngay khi đó, Chính phủ Nam Việt Nam đã đưa ra lời phản đối lên Liên hợp quốc, công bố sách trắng về các quần đảo và lên án mạnh mẽ chống lại các hành động bất hợp pháp của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
Chính quyền Sài Gòn đã sử dụng diễn đàn tại khóa hợp thứ hai của Hội nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc về Luật biển tại Caracas năm 1974 để khẳng định lại các quyền của mình đối với hai quần đảo này. Trong năm 1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam nhắc lại rằng, "chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là những vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc".
Như vậy, hai chính phủ khẳng định mình là đại diện cho Nam Việt Nam (được trao quyền quản lý lãnh thổ hai quần đảo) đã có chung một thái độ về vấn đề này, không làm đứt mạch chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo. Tuy nhiên, Trung Quốc lập luận rằng đã có sự từ bỏ danh nghĩa chủ quyền từ phía Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Đó là tuyên bố của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ công hòa, ông Phạm Văn Đồng, ngày 14 tháng 9 năm 1958. Công hàm của ông Phạm Văn Đồng nói như sau: "Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng Lí rõ, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ghi nhận và tán thành lời tuyên bố ngày 4.9.1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tôn trọng quyết định đó và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên mặt bể."
Giàn khoan, HD-981, Hải Dương-981, biển Đông, ASEAN, Trung Quốc, COC, DOC, yêu nước, tuần hành, vòi rồng, bành trướng, chiến tranh, Trường Sa, Hoàng Sa, chủ quyền, độc lập dân tộc, công hàm 1958, Phạm Văn Đồng
Ông Đinh Kim Phúc
Có thể thấy rằng, tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng chỉ có một nghĩa hẹp là công nhận bề rộng lãnh hải của Trung Quốc. Do vậy, thật không đúng khi lập luận rằng, Việt Nam đã "khẳng định lại sự công nhận của họ đối với yêu sách của Trung Quốc" đối với các quần đảo. Quan trọng hơn, ông Đinh Kim Phúc, giảng viên khoa Đông Nam Á học, Đại học Mở TP.HCM cho rằng: "Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cũng như Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay chưa bao giờ lên tiếng phủ nhận hoặc ra Nghị quyết từ bỏ chủ quyền của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa."
Hơn nữa, trong chiến tranh, vì lợi ích quân sự chung, bên này hay bên kia có thể sử dụng lãnh thổ láng giềng hay dàn xếp lãnh thổ tạm thời. Và luật pháp quốc tế không thể rút ra từ những việc như vậy các kết luận về tính liên tục của danh nghĩa pháp lý.
Những năm sau 1975, Trung Quốc tiếp tục duy trì việc chiếm đóng bằng quân sự trên toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Trong khi đó, Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình đối với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Đó là những khẳng định liên tục các quyền của Nhà nước phong kiến Việt Nam từ xa xưa, sau đó là của Pháp thay mặt cho nước Việt Nam thuộc địa và đã có sự chiếm đóng thật sự hai quần đảo.
Và liên tục từ đó đến nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng, khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Theo công pháp quốc tế, việc sở hữu một lãnh thổ không chấm dứt chỉ vì mất đi sự chiếm giữ vật chất. Nói cách khác, sự gián đoạn các biểu hiện vật chất tự nó không làm gián đoạn chủ quyền nếu như không có ý định từ bỏ lãnh thổ đó một cách rõ ràng. 
Giàn khoan, HD-981, Hải Dương-981, biển Đông, ASEAN, Trung Quốc, COC, DOC, yêu nước, tuần hành, vòi rồng, bành trướng, chiến tranh, Trường Sa, Hoàng Sa, chủ quyền, độc lập dân tộc, công hàm 1958, Phạm Văn Đồng
Bức Công hàm ngày 14-9-1958 của Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký
Như vậy, Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử - pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Việt Nam là quốc gia duy nhất đã chiếm hữu, quản lý hai quần đảo một cách liên tục, hòa bình và phù hợp với các quy định luật pháp quốc tế. Tuy vậy, trong những năm gần đây, để hỗ trợ yêu sách chủ quyền phi lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của mình, Trung Quốc đã và đang tiến hành các hoạt động củng cố yêu sách chủ quyền cả bằng hoạt động lập pháp và trên thực tế như nâng cấp Hải Nam thành tỉnh thứ 30 của nước này, trong đó bao gồm cả Hoàng Sa, Trường Sa. Đặc biệt, năm 2007, Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa, thuộc tỉnh Hải Nam, trực tiếp quản lý cả quần đảo Hoàng Sa và Trường của Việt Nam.
Rõ ràng, Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bằng những cuộc tấn công quân sự vào năm 1956 và 1974. Nhưng sự chiếm đóng này không thể chuyển hóa thành một danh nghĩa pháp lý. Pháp luật quốc tế hiện đại nghiêm cấm sử dụng vũ lực chống lại toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia. Cụ thể, Điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên hợp quốc nêu rõ: "lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một cuộc chiếm đóng quân sự do sử dụng vũ lực trái với các quy định của Hiến chương. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm hữu của một quốc gia khác sau khi dùng đe dọa hay sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào đạt được bằng đe dọa hay sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận là hợp pháp".
Giàn khoan, HD-981, Hải Dương-981, biển Đông, ASEAN, Trung Quốc, COC, DOC, yêu nước, tuần hành, vòi rồng, bành trướng, chiến tranh, Trường Sa, Hoàng Sa, chủ quyền, độc lập dân tộc, công hàm 1958, Phạm Văn Đồng
Bà Monique Chemillier Gendreau: "Trung Quốc không hề có giấy tờ chứng thực lịch sử, đã dùng vũ lực để chiếm đóng Hoàng Sa. Với quần đảo Trường Sa, chính quyền nước này cũng không có quyền gì mà chỉ chiếm bằng vũ lực."
Bà Monique Chemillier Gendreau, giáo sư công pháp và khoa học chính trị ở Trường Đại học Paris VII Denis Diderot, nguyên Chủ tịch Hội luật gia châu nhấn mạnh, việc chiếm đóng bằng vũ lực không thể là cơ sở của một quyền. "Trung Quốc không hề có giấy tờ chứng thực lịch sử, đã dùng vũ lực để chiếm đóng Hoàng Sa. Với quần đảo Trường Sa, chính quyền nước này cũng không có quyền gì mà chỉ chiếm bằng vũ lực. Điều này không thể được xem là một quyền theo luật pháp quốc tế. Tôi đã nghiên cứu nhưng chưa tìm được những giấy tờ nào về sự có mặt hoặc quản lý thực sự của Trung Quốc. Thậm chí trong những cuộc thương lượng, họ vẫn không nắm rõ vấn đề, nhầm lẫn. Họ chủ yếu dựa vào vũ lực."
Như vậy, tất cả các hành động nhằm củng cố quyền của Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa đề được xem là vô giá trị. Không có chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa, không có chủ quyền ở đảo Tri Tôn, Trung Quốc không thể vận dụng Công ước của Liên Hợp quốc năm 1982 để xác định vùng biển thuộc quyền đảo Hoàng Sa để xác lập chủ quyền và quyền chủ quyền của Trung Quốc đối với những vùng biển đó. Chính vì vậy ngụy biện khi cho rằng: "vị trí đặt giàn khoan Hải dương 981" cách đảo Tri Tôn 17 hải lý là trong vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa mà họ đang chiếm đóng là không có cơ sở pháp lý. Nếu áp dụng Công ước của Liên Hợp quốc về luật Biển năm 1982 để tính cách vùng biển xung quan quần đảo Hoàng Sa chỉ có Việt Nam - quốc gia có chủ quyền hợp pháp quốc với quần đảo Hoàng Sa mới có chủ quyền và quyền chủ quyền đối với các vùng biển đó.
Hơn nữa, vị trí Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải dương 981 lại nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia Việt Nam, cách đường cơ sở được vạch ra theo Công ước luật biển 119 hải lý, tức là vào sâu trong vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam 81 hải lí. TS luật học Trần công Trục, Nguyên Trưởng ban Ban Biên giới Chính Phủ nhấn mạnh: "Căn cứ vào Công ước của Liên Hợp quốc về luật Biển năm 1982 để tính toán vị trí Trung đặt giàn khoan 981 thì thấy rằng vị trí này nằm rất sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Bởi vì vị trí này nằm cách đảo Lý Sơn, một điểm nằm trên đường cơ sở của VN 119 hải lý, cách ranh giới ngoài của vùng đặc quyền kinh tế là 80 hải lí và cách đảo Tri Tôn mà Trung Quốc gọi là Chúng Kiến là 18 hải lý nghĩa là nó nằm ngoài 12 hải lý. Căn cứ vào công ước luật biển thì quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam họ chiếm đóng trái phép là vô lý rồi nhưng ngay chuyện Trung Quốc tính đường cơ sở để tính các vùng biển là hoàn toàn áp dụng sai về luật biển để tạo ra vùng chồng lấn, tạo ra vùng tranh chấp thì đó là hoàn toàn vô lý. Chúng ta không thể nào chấp nhận cái quan điểm đó!"
Giàn khoan, HD-981, Hải Dương-981, biển Đông, ASEAN, Trung Quốc, COC, DOC, yêu nước, tuần hành, vòi rồng, bành trướng, chiến tranh, Trường Sa, Hoàng Sa, chủ quyền, độc lập dân tộc, công hàm 1958, Phạm Văn Đồng
TS Trần Công Trục: "Trung Quốc đã cố tình vận dụng sai Công ước luật biển 1982 để ngụy biện cho hành động sai trái của mình".
Như vậy, hành động hạ đặt trái phép giàn khoan Hải dương 981 vừa qua của Trung Quốc không có bất cứ cơ sở pháp lý nào. Nó chỉ là những bước đi tiếp theo những hoạt động sai trái của Trung Quốc như chiếm đóng nhóm đảo phía Đông của quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956 và toàn bộ quần đảo này vào năm 1974, các hoạt động quân sự để chiếm đóng một số đảo ở quần đảo của Việt Nam vào năm tháng 3 năm 1988 cũng như yêu sách đường lưỡi bò phi lý và các hành động nhằm kiểm soát thực tế yêu sách này.
Hạ đặt giàn khoan hải dương 981 là một việc làm trái phép nối tiếp các việc làm sai trái của Trung Quốc ở Biển đông với một mưu đồ thống nhất nhằm biến Biển Đông thành ao nhà Trung Quốc. Với việc hạ đặt giàn khoan Hải dương 981 Trung Quốc đã xâm phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán tại thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng các quy định của Công ước luật Biển 1982, vi phạm tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 (DOC) và các thỏa thuận liên quan giữa lãnh đạo cấp cao 2 nước cũng như thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển VN - TQ.
Trải qua lịch sử hàng ngàn năm chống ngoại xâm, trải qua các cuộc chiến tranh vệ quốc suốt chiều dài lịch sử, người Việt Nam hiểu hơn ai hết những đau thương, mất mát của chiến tranh cũng như những giá trị của hòa bình. Những ngày qua, mọi biện pháp hòa bình trong khuôn khổ Hiến chương Liên Hợp quốc đã được phía Việt Nam tận dụng để đấu tranh bảo vệ quyền chủ quyền và quyền tài phái của quốc gia trước hành động hạ đặt giàn khoan trái phép của Trung Quốc. Nhưng lịch sử dân tộc Việt Nam cũng chỉ ra rằng, chủ quyền lãnh thổ quốc gia là vấn đề thiêng liêng nhất đối với mỗi người dân Việt Nam và Việt Nam sẵn sằng sử dụng mọi biện pháp để bảo vệ lợi ích, chủ quyền của quốc gia./.
Theo Vietnamnet:
http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/175510/cong-ham-1958-va-van-de-chu-quyen-o-hoang-sa-truong-sa.html

Phải khiến người Trung Quốc không tin chính phủ họ

Phải khiến người Trung Quốc không tin chính phủ họ

 Việt Nam nên nhớ rằng việc nước ta có được sự ủng hộ rộng rãi của quốc tế trong kháng chiến chống Mỹ không chỉ nhờ khả năng thuyết phục của ta, mà còn từ chính bản thân người dân các nước đó nhận thức được vấn đề.
Trước việc làm ngang nhiên của Trung Quốc tại Biển Đông trong tuần qua, sự đấu tranh của người Việt dù trong hay ngoài nước một lần nữa khẳng định tinh thần yêu nước vốn có. Người Việt không sợ giặc, nhất là giặc phương Bắc. Người Trung Quốc hơn ai hết cũng hiểu rất rõ điều đó.
Trong lịch sử, Trung Quốc chưa bao giờ và có lẽ không bao giờ từ bỏ ý định thôn tính Việt Nam (khi ta yếu) hay ít nhất biến Việt Nam trở thành một quốc gia vệ tinh nằm dưới quyền ảnh hưởng của họ (khi ta mạnh). Nếu không thôn tính được các nước xung quanh bằng quân sự trực tiếp thì họ sẽ gây rối loạn, mất ổn định về kinh tế và chính trị để dễ bề "cai quản" đồng thời triển khai chiến lược "tằm ăn rỗi" và gây "sự đã rồi."
Giàn khoan, HD-981, Hải Dương-981, biển Đông, ASEAN, Trung Quốc, COC, DOC, yêu nước, tuần hành, vòi rồng, bành trướng, chiến tranh, Trường Sa, Hoàng Sa, chủ quyền, độc lập dân tộc, kiểm ngư viên, biển đảo, hàng xóm, hải quân, cảnh sát biển Việt Nam, tòa á
Người dân tuần hành tại Hà Nội sáng 11/5 phản đối TQ hạ đặt giàn khoan trái phép. Ảnh:Chung Hoàng
Vậy giải pháp tức thời của ta hiện nay là gì?
Trước hết, không manh động. Người lãnh đạo và cầm quân hiểu hơn ai hết việc bị rơi vào thế đối phó và bị động. Là một nước nhỏ và nghèo, đã trải qua đô hộ, chiến tranh và chia cắt hàng thế kỉ nay, phải cầm vũ khí là việc cuối cùng ta muốn làm và buộc phải làm.
Nhưng dù buộc phải đánh, ta nên đánh ở thế đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc đó. Năm 1945 ta phải làm mọi cách để có được một khoảng thời gian, dù chỉ hơn 1 năm ít ỏi, để chuẩn bị lực lượng. Năm 1954, ta bắt đầu bằng đấu tranh chính trị ở miền Nam những mong thống nhất đất nước và cũng để miền Bắc vươn lên thành hậu phương lớn. Không chỉ về mặt kinh tế và quân sự, mà đối ngoại của ta cũng phải hoạt động mạnh mẽ trong cả hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ để tránh đổ máu tới giây phút cuối cùng.
Việc đối phó một cách bị động trong hai cuộc chiến tranh biên giới sau đó cho thấy tai hại khó lường như thế nào khi ta không làm tốt công tác chuẩn bị tinh thần cho nhân dân ta cũng như nhân dân khu vực và thế giới.
Một điều quan trọng khác cần nhớ, đó là nhân dân, dù ở nước lớn hay nước bé, đều không muốn đổ máu. Bác Hồ đã rèn luyện cho nhân dân ta một thói quen tốt, đó là phân biệt giữa "nhân dân" và "chính phủ" Pháp và Mỹ...
Hai năm trước, một học giả người Trung Quốc tại đại học Cornell nói với tác giả rằng những người có đầu óc ôn hòa như ông không có chân trong chính quyền Trung Quốc bây giờ. Điều này cho thấy không phải người Trung Quốc nào cũng có đầu óc bá quyền. Hãy nhớ câu "Tôi không sợ giặc, chỉ sợ lòng dân không theo" của Hồ Nguyên Trừng để áp dụng cho chính Trung Quốc.
Chính sách nào không hợp lòng dân thì đã thất bại một nửa. Khi Lý Thường Kiệt trực tiếp đưa quân sang đất Trung Quốc để chặn giặc, ông đã giải thích cặn kẽ với người dân nước họ tại sao ông phải làm việc đó.
Giàn khoan, HD-981, Hải Dương-981, biển Đông, ASEAN, Trung Quốc, COC, DOC, yêu nước, tuần hành, vòi rồng, bành trướng, chiến tranh, Trường Sa, Hoàng Sa, chủ quyền, độc lập dân tộc, kiểm ngư viên, biển đảo, hàng xóm, hải quân, cảnh sát biển Việt Nam, tòa á
Chủ quyền biển đảo là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Ảnh: Kiên Trung
Trong kháng chiến chống Mỹ điều kiện của chúng ta còn khó khăn hơn bây giờ rất nhiều, nhưng từng người dân của ta, dù ở trong hay ngoài nước, đều là một chiến sỹ trên mặt trận đối ngoại. Người Việt lúc đó không bỏ qua bất kì cơ hội nào để thông tin với bạn bè thế giới về tính chính nghĩa của cuộc chiến cũng như quyết tâm của người Việt sẽ chiến đấu cho tới ngày đất nước thu về một mối. Họ rải truyền đơn, đi nói chuyện ở các cuộc gặp, viết báo, v.v... Họ vận động sự ủng hộ của chính những người dân Mỹ. Đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hoạt động không mệt mỏi để được tiếp xúc với nhân dân thế giới cũng chỉ với một mục đích là giải thích cho họ việc ta làm.
Thế kỉ trước ta còn vận động được, với công nghệ của thế kỉ này chả lẽ không? Trong một cuộc chiến tranh mà dân ta một lòng, thế giới ủng hộ, và chính dân nước họ không tin vào lý lẽ của chính phủ họ thì ta nhất định thắng. Và cái đó là cái ta đang cần khi phải đối phó với Trung Quốc về vấn đề biển đảo.
Khi thông tin với thế giới về cuộc khủng hoảng ở Biển Đông, ta nên nói gì? Không phải cứ nghĩ "ta đúng" là thế giới họ phải chú ý đến ta. Chỉ có thể khiến thế giới quan tâm nếu ta nói rằng đây không chỉ là vấn đề xâm phạm trái phép thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của VN, mà là vấn đề an ninh khu vực và thế giới.
Việt Nam nên nhớ rằng việc nước ta có được sự ủng hộ rộng rãi của quốc tế trong kháng chiến chống Mỹ không chỉ nhờ khả năng thuyết phục của ta, mà còn từ chính bản thân người dân các nước đó nhận thức được vấn đề (dù ngoài dự kiến của ta); họ lo ngại việc làm của Mỹ ở Việt Nam và toàn cõi Đông Dương có thể dẫn đến chiến tranh thế giới thứ 3 trong đó khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử là điều dễ xảy ra.
Bởi vậy, trong đấu tranh về biển đảo với Trung Quốc hiện nay ta phải nhấn mạnh với thế giới rằng khủng hoảng ở biển Đông là vấn đề quốc tế cần có sự tham gia giải quyết của tất cả các nước. Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo chấn giữ Đông Nam Á, là cửa ngõ thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
Thật dễ hiểu khi Trung Quốc từ xa xưa đã muốn bành trướng nắm giữ yết hầu quan trọng này. Không chiếm được lãnh thổ đất liền Việt Nam qua bao lần thôn tính thì ít nhất phải chiếm cho bằng được các quần đảo để có thể kiểm soát đường giao thông ở Biển Đông là nơi phần lớn mậu dịch thế giới phải đi qua.
Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực và giết người - đó là việc vi phạm luật quốc tế có thể bị đưa ra tòa án quốc tế xét xử. Ngoài ra, Philippines đã kiện Trung Quốc ra Liên Hợp Quốc và rất nhiều khả năng là vụ án sẽ được thụ lý bởi nước bạn đã dùng một đội ngũ luật sư quốc tế hùng hậu và nổi tiếng.
Trung Quốc càng khăng khăng giữ lập trường không chịu để Liên Hợp Quốc dính líu đến việc này thì càng tự cô lập mình. Tự họ cũng hiểu về luật biển và về chính trị, lập trường của họ là luận điệu bành trướng, bởi vậy họ không bao giờ muốn việc làm của họ được mang ra mổ xẻ và phơi bày nơi công cộng. Một mặt ta ủng hộ Philippines, mặt khác hợp tác với các nước trong khu vực có liên quan tới tranh chấp này để đấu tranh trên trường quốc tế là việc làm vô cùng cần thiết.
Lý luận "đây là vấn đề an ninh thế giới" cũng sẽ tạo điều kiện cho các nước lớn khác, ví dụ như Mỹ và Úc, có cơ hội tham gia vào giải quyết vấn đề. Nước Mỹ, như nhiều nước khác, đang phải đối mặt với vấn đề kinh tế và quân sự của chính họ; nguồn lực kinh tế có hạn khiến việc dàn trải quân sự là vô cùng khó khăn.
Từ vài năm trở lại đây, chính phủ Mỹ đã cắt giảm rất nhiều chi tiêu cho quân sự. Trong lúc đó, Tây Âu không hề muốn mất cái ô an ninh của Mỹ, và khủng hoảng ở Ukraina cho thấy rõ điều đó. Cho tới gần đây, bất chấp những lời tuyên bố của chính phủ Mỹ về chiến lược "xoay trục," chưa hề có dấu hiệu hoạt động của Mỹ ở châu Âu đã và đang giảm; và tất nhiên trong tương lai Tây Âu (kể cả một số nước Trung Đông) sẽ làm mọi cách để vẫn được là tâm điểm trong ra-đa của Mỹ.
Do đó, muốn Mỹ cụ thể hóa "xoay trục" sang châu Á, ta không thể ngồi đó trông chờ vào "tuyên bố" của họ mà phải tích cực và chủ động tạo điều kiện cho họ tham gia. Ngoài ra, nếu nói đây là vấn đề an ninh quốc tế thì cũng sẽ khiến chính Tây Âu tự nới lỏng để cho Mỹ quay sang khu vực này.
Dân ta không sợ giặc, dân ta không ngại đánh giặc. Nhưng làm thế nào để vẫn đạt mục đích với thiệt hại thấp nhất mới là điều khó. Không dùng gươm đao mà vẫn khiến quân thù phải lùi bước, đó mới là thượng sách.
Theo Vietnamnet:
http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/175454/phai-khien-nguoi-tq-khong-tin-chinh-phu-ho.html