Thứ Hai, 30 tháng 6, 2014

“Bom nổ chậm” ở tín dụng ngoại tệ

“Bom nổ chậm” ở tíndụng ngoại tệ

“Bom nổ chậm” ở tín dụng ngoại tệ
 Kể từ đầu tháng 4/2014, lãi suất USD liên ngân hàng có xu hướng tăng từ mức 0,3%/năm lên khoảng 0,5%/năm.

Lãi suất cho vay USD đang rẻ hơn VND ít nhất tới 3% - 5%/năm, và đó là nguyên nhân kéo theo tỷ lệ cho vay/tiền gửi ngoại tệ đã tăng từ 84,3% thời điểm đầu năm 2014 lên 99,5% vào đầu tháng 5/2014.

Vì sao có hiện tượng này và hậu quả của nó là gì?

Áp lực thanh khoản ngoại tệ:
Cập nhật mới nhất từ Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia cho thấy, tính đến đầu tháng 5/2014 so với cuối 2013, trong khi tăng trưởng tiền gửi ngoại tệ giảm 9,1% thì tín dụng ngoại tệ tăng 7,2% và tỷ lệ cho vay/tiền gửi ngoại tệ tăng từ 84,3% lên 99,5%. 

Cùng đó, kể từ đầu tháng 4/2014, lãi suất USD liên ngân hàng có xu hướng tăng từ mức 0,3%/năm lên khoảng 0,5%/năm.
Còn với tín dụng VND thì sao?
Cùng mốc thời gian nói trên, cho vay VND giảm 2,6% nhưng tiền gửi VND tăng tới 3,5%, góp phần đưa tỷ lệ cho vay/tiền gửi VND giảm từ 82,4% xuống 79,9%.
Nếu so sánh lãi suất USD với lãi suất VND thì có sự chênh lệch khá lớn, đưa chúng thành điểm đến của tín dụng ngoại tệ.
Cụ thể, thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, từ 9/6 - 13/6, trong khi lãi suất cho vay VND từ 7% - 8%/năm (doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao); cho vay ngắn hạn thông thường từ 9% - 10% và 10,5% - 12%/năm đối với cho vay trung, dài hạn thì lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 3% - 6% với ngắn hạn) và 5,5% - 7%/năm với trung, dài hạn.
Đây được cho là một trong những ma lực gây nên tình trạng tín dụng ngoại tệ tăng vượt trội so với tín dụng nội tệ.
Tình trạng này kéo dài đến nay khi một cán bộ nguồn vốn một ngân hàng lớn cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2014 so với cuối 2013, tăng trưởng tín dụng ngoại tệ toàn hệ thống khoảng 10% nhưng tăng trưởng huy động ngoại tệ hoàn toàn âm.
Nếu đà này tiếp tục, sẽ dẫn đến tình trạng các ngân hàng cho vay vượt quá khả năng huy động của mình và cầm chắc rủi ro thanh khoản ngoại tệ. Điều tai hại là nếu mất thanh khoản VND, Ngân hàng Nhà nước còn có thể hỗ trợ qua OMO, tái cấp vốn nhưng với ngoại tệ thì rất khó vì thiếu các kênh hỗ trợ ngoại tệ từ cơ quan này.
Có một kênh duy nhất hỗ trợ ngoại tệ khá hiệu quả giữa Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại là cơ chế hoán đổi “đô - đồng” được xác lập cách đây khá lâu nhưng các cơ chế, cách thức thực hiện chưa được rõ ràng và chuẩn hóa như các nghiệp vụ OMO hay tái cấp vốn.
Hay nói khác đi, giả định một ngân hàng thương mại rơi vào tình huống mất thanh khoản ngoại tệ thì việc hỗ trợ từ Ngân hàng Nhà nước là không hề đơn giản như với mất thanh khoản VND.
Một tác hại thứ hai là, nếu doanh nghiệp cứ vay USD nhiều thì tất yếu đến hạn phải trả. Giả định doanh nghiệp có một khoản vay USD đến hạn trả thì phải mua USD để trả nợ cũ thì mới được vay mới. Khoản USD vay mới có thể được doanh nghiệp bán ra, thu VND về và xét về tổng thể cân đối cung cầu của thị trường, chúng không tiêu tốn nhiều ngoại tệ mà chỉ hoán đổi từ “túi” nọ sang “túi kia”.
Đó là lý do vì sao suốt ba năm qua, tín dụng ngoại tệ tăng vượt trội so với tín dụng nội tệ nhưng chưa phát sinh quá nhiều nhu cầu mua ngoại tệ để trả nợ vay. Nhờ đó mà không gây áp lực lên tỷ giá trong suốt một thời gian dài.
Thế nhưng, đến một lúc đó, áp lực về thanh khoản ngoại tệ sẽ căng thêm; thêm vào đó, nếu có một biến cố thị trường khiến doanh nghiệp tin rằng tỷ giá sẽ tăng trong thời gian tới, họ sẽ gia tăng mua USD để trả nợ vay và áp lực lên tỷ giá tại một thời điểm nhất định là khó tránh khỏi.
Ngập ngừng giảm lãi suất VND:
Quan sát thị trường trong các năm 2013 và 2014 cho thấy, tại một số thời điểm, khi doanh nghiệp kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng biên độ tỷ giá, lập tức xuất hiện khá lớn nhu cầu mua ngoại tệ trả nợ trước hạn của doanh nghiệp là khá lớn. 

Đó là một tất yếu, khi mà cho vay nhiều thì cục nợ sẽ lớn thêm và cùng đó là rủi ro, ép ngược lên Ngân hàng Nhà nước.
Một điều đáng lưu ý là Ngân hàng Nhà nước đang khá kiên trì với mục tiêu chống "đô la hóa" nhưng một khi, quan hệ vay mượn ngoại tệ vẫn trong tình trạng trên thì rất khó hiện thực hóa mục tiêu trên vì xét cho cùng, nhà nước đang thừa nhận sử dụng ngoại tệ trong nền kinh tế.
Nói cách khác, chỉ khi nào, quan hệ mua bán ngoại tệ thay thế hoàn toàn quan hệ vay mượn ngoại tệ thì mới thành công trong việc chống "đô la hóa".
Không phải Ngân hàng Nhà nước không nhận ra điều này. Tại cuộc họp Chính phủ tháng 5/2014, ông Nguyễn Văn Bình, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nêu quan điểm: “Nhiều nhà kinh tế khuyến cáo Ngân hàng Nhà nước cần giảm lãi suất VND hơn nữa để tránh áp lực chi phí vốn cho doanh nghiệp nhưng trong dài hạn, vị thế của VND sẽ bị ảnh hưởng và Ngân hàng Nhà nước phải cân nhắc rất kỹ vấn đề này”.

Cần thấy là một thời gian rất dài, Ngân hàng Nhà nước đã có lý khi duy trì lãi suất tiền gửi VND cao hơn tiền gửi USD. Nhờ đó, người nắm giữ VND thấy có lợi hơn và tất yếu, sẽ bán ngoại tệ cho ngân hàng để nắm giữ VND.
Nhưng cách thức này mới chỉ mới đem lại mặt tốt là chống găm giữ ngoại tệ, nâng cao vị thế VND nhưng ở phía tiền vay ngoại tệ, lại xảy ra bất cập như nêu trên.
Vậy thì, vấn đề là Ngân hàng Nhà nước phải tìm được điểm trung hòa lợi ích ở một ngưỡng nào đó, để doanh nghiệp thấy rằng, dù đi vay ngoại tệ hay vay VND thì lợi ích thu được cũng chỉ ở mức tương đồng. Đáng tiếc là ngưỡng này vốn được Ngân hàng Nhà nước duy trì đã lâu nhưng đã phải là ngưỡng trung hòa lợi ích hay chưa thì còn phải bàn.
Giả thiết rằng, để khắc phục tình trạng trên, tới đây, Ngân hàng Nhà nước điều hành giảm lãi suất VND với nhiều mục đích: giảm áp lực chi phí vốn cho doanh nghiệp, tránh kéo dài tình trạng doanh nghiệp đổ xô vay ngoại tệ như từng diễn ra nhưng còn lợi ích của các ngân hàng thì sao?
Trong bối cảnh hiện nay, muốn giảm lãi suất VND thì lạm phát phải giảm hơn nữa. Trong khi đó, hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng rất khó khăn, làm được đồng nào phải trích lập dự phòng rủi ro theo thông thường, vừa phải trích lập 20% khoản nợ xấu đã bán cho VAMC; trong khi tín dụng lại tăng trưởng chậm.
Việc giảm lãi suất VND thực ra là đang đánh vào “nồi cơm” của chính các cổ đông ngân hàng và thực tế là Ngân hàng Nhà nước không dễ tìm thấy tiếng nói đồng thuận trong vấn đề này.
Đó là chưa kể, nếu giảm lãi suất thì ai dám chắc dòng tiền gửi VND không bị ảnh hưởng, bởi khi mà lợi ích kinh tế từ tiết kiệm bị bào mòn thì người nắm giữ tiền đồng sẽ mang tiền săn tìm lợi ích ở mua bán ngoại tệ, vàng.

Và đó là điều mà Ngân hàng Nhà nước không mong muốn. 

Theo Vneconomy:
http://vneconomy.vn/2014062610389871P0C6/bom-no-cham-o-tin-dung-ngoai-te.htm

Ngân hàng Nhà nước chọn dẫn dắt hay chạy theo thị trường?

Ngân hàng Nhà nước chọndẫn dắt hay chạy theo thị trường?

Khi thị trường có thêm quyền lực, nó có thể buộc nhà điều hành phải chạy theo...

 Ngân hàng Nhà nước chọn dẫn dắt hay chạy theo thị trường?

Với một biên độ rộng hơn, Ngân hàng Nhà nước sẽ càng khó kiểm soát biến động của tỷ giá.

Nhóm tư vấn chính sách kinh tế vĩ mô thuộc Ủy ban Kinh tế của Quốc hội vừa phát hành bản báo cáo kinh tế vĩ mô 2014. Trong đó, nội dung về tỷ giá có những khuyến nghị cho chính sách.

Nổi bật là khuyến nghị liên quan đến biên độ giao dịch.
Cụ thể, bản báo cáo viết: “Để tăng cường tính linh hoạt của tỷ giá trong giới hạn ổn định cho phép, cần tăng biên độ dao động của tỷ giá ngân hàng thương mại xung quanh tỷ giá chính thức thay vì vẫn giữ ở mức 1% hiện nay (kể từ đầu năm2011).

Bên cạnh đó, cần tránh xu hướng điều chỉnh tăng đột ngột một chiều tỷ giá sau đó giữ nguyên tỷ giá chính thức trong thời gian dài, thay vào đó, cần tạo một khuôn khổ linh hoạt hơn cho tỷ giá với sự thay đổi tỷ giá chính thức có lên, có xuống với mức điều chỉnh nhẹ với tần suất nhiều hơn”.

Có một chút về mức độ của biên độ cần nêu rõ hơn ở đây: biên độ tỷ giá áp dụng hiện nay là +/-1% theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, tức có hai chiều và rộng hơn 1% như báo cáo viết.

Quan trọng hơn, Ngân hàng Nhà nước có nên tăng biên độ dao động của tỷ giá hay không?

Đây không phải là lần đầu tiên giới nghiên cứu đưa ra khuyến nghị này. Nay, nó đặt ra, tiếp tục nhấn mạnh đến một lựa chọn mà Ngân hàng Nhà nước cần thực hiện - theo bản báo cáo.

Một lãnh đạo của Ngân hàng Nhà nước cho biết, hiện cơ quan này đang tiếp thu và nghiên cứu đề xuất trên, nên chưa có thông tin phản hồi về khuyến nghị. Nhưng, vì đã từng có trước đây, nên hẳn nhà điều hành cũng đã tính đến phương án tăng biên độ; hay nói cách khác, họ có nhiều lựa chọn và ba năm qua không chọn điều hành như vậy. Hẳn là có lý do, chứ không hẳn là họ không nhìn thấy.
Sau ba năm điều hành, nhiều lần Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng như lãnh đạo vụ chức năng nhấn mạnh đến định hướng: chính sách tiền tệ từ thụ động chạy theo thị trường được chuyển sang dẫn dắt thị trường. Thông thường, để dẫn dắt một cái gì đó theo ý mình, nhất khi nhiều người vẫn đề cao bản năng của nó, như thị trường, thì cần phải có quyền lực.

Với điều hành tỷ giá, nếu mở rộng biên độ, Ngân hàng Nhà nước sẽ trao thêm quyền lực cho thị trường, hay thị trường có tiếng nói lớn hơn cũng là một cách nói. Khi thị trường có thêm quyền lực, ngược lại, nó có thể buộc nhà điều hành phải chạy theo. Dĩ nhiên, ngoài biên độ, còn có nhiều công cụ khác để ứng xử với nó.

Thế nên, giả sử lúc này Ngân hàng Nhà nước nới rộng biên độ lên +/-3% hay +/-5% như trước đây, nhưng Thống đốc vẫn giữ cam kết biến động tỷ giá cả năm nay chỉ gói gọn trong 2%. Vậy thì chắc chắn là họ không muốn mâu thuẫn khi nới rộng biên độ, hoặc vẫn nới rộng nhưng có thể phải mất nhiều nguồn lực để tỷ giá không vượt quá 2% so với cuối 2013.

Trở lại với khuyến nghị trên, với một biên độ rộng hơn, Ngân hàng Nhà nước sẽ càng khó kiểm soát biến động của tỷ giá. Như một bài viết trước đây trên VnEconomy, việc điều hành tỷ giá được so sánh với hình ảnh của chuyên gia Trương Văn Phước về câu chuyện cô gái dẫn chú cún đi dạo trong công viên.

Với nhiều biến động (và nhiều cái giá phải trả) trước đây, tỷ giá được xem là một chú cún tinh nghịch. Đi dạo trong công viên, có nhiều yếu tố ngoại cảnh tác động đến chú, kích thích chú ấy chạy nhảy hoặc có thể khiến chú ấy giận dữ. Khi chú chạy nhảy hay giận dữ sẽ khiến cô chủ khó kiểm soát, khi khó kiểm soát thì có thể gây nên những chuyện ngoài mong muốn. Để kiểm soát, cô chủ dắt chú cún bằng một sợi dây, ở đây là biên độ tỷ giá; sợi dây càng ngắn thì càng dễ kiểm soát, và ngược lại.

Khi tỷ giá có một biên độ rộng hơn, khả năng biến động sẽ lớn hơn. Biến động lớn hơn sẽ dễ gây xáo trộn lớn hơn, tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể sẽ lớn hơn. Cũng lưu ý rằng, cho đến nay, đã bốn năm trôi qua, vẫn có những doanh nghiệp vẫn phải tạm treo những rủi ro của tỷ giá trong những biến động thời biên độ rộng, thực hiện trích lập từ từ, khi không đủ sức để trích lập cả ngay.

Mặt khác, với một biên độ rộng hơn, đồng nghĩa với việc nhà điều hành chấp nhận một khoảng biến động lớn của tỷ giá mà không can thiệp. Nếu có biến động lớn (trong biên độ rộng cho phép đó) mà không can thiệp, người dân và doanh nghiệp có thể mất phương hướng. Nói cách khác, để một biên độ rộng, Ngân hàng Nhà nước sẽ tự đẩy mình ra xa mà khiến người dân, doanh nghiệp nhìn những động thái của mình kém đi, càng gần thì nhìn càng rõ.

Và với một biên độ lớn, tỷ giá có điều kiện để có nhiều thay đổi với mức độ lớn, khi đó niềm tin vào giá trị VND, niềm tin vào ổn định thị trường sẽ càng dễ bị rung lắc. Nhìn lại, phải sau nhiều năm, nhiều lựa chọn và thay đổi của chính sách, Ngân hàng Nhà nước mới bắt đầu thiết lập được niềm tin cho thị trường, trong đó có chính sách điều hành tỷ giá.

Ở một tình huống khác, giả sử Ngân hàng Nhà nước bỏ định hướng (như một cam kết) ổn định tỷ giá trong khoảng biến động 2% năm nay, nới rộng biên độ, rủi ro tỷ giá đối với doanh nghiệp là đáng dè chừng, nhất là khi họ còn thiếu sản phẩm bảo hiểm cho sự an toàn, ổn định trong sản xuất kinh doanh gắn với nguồn vốn liên quan đến ngoại tệ… Khi phải đứng trước khả năng có rủi ro lớn hơn, chắc chắn niềm tin vào môi trường kinh doanh có thể bị tổn thương, nhất là trong một thị trường còn bất đối xứng thông tin, thông tin chưa thực sự lan tỏa công bằng đến với các thành viên trên thị trường.

Dĩ nhiên, như trên, ngoài biên độ, Ngân hàng Nhà nước còn có các công cụ khác để phối hợp điều hành chính sách tỷ giá. Và như đề cập cụ thể ở bản báo cáo là tỷ giá chính thức.

Có thể hiểu đó là tỷ giá bình quân liên ngân hàng. Những năm gần đây, cứ sau điều chỉnh tỷ giá này lại đứng yên, hay kẻ thẳng theo thời gian. Tuy nhiên, trên thị trường liên ngân hàng, hay trên biểu niêm yết của các ngân hàng, tỷ giá (của “đời sống thực”) vẫn luôn biến động, có lên, có xuống.

Phần lớn thời gian trong hai năm qua, tỷ giá của “đời sống thực” đó vẫn lặn ngụp trong biên độ +/-1%. Nếu nó vẫn bơi thoải mái trong cái “ao” đó thì có nên nới rộng? Khi tỷ giá áp sát trần, có biểu hiện căng cứng, Ngân hàng Nhà nước lại can thiệp, và sau đó thị trường lại hài lòng, ít nhất là đã thấy trong hai năm qua. Còn khi nó không hài lòng, hẳn Ngân hàng Nhà nước sẽ phải xem xét lại cơ chế điều hành của mình.

Cũng như trước một khuyến nghị, sẽ có những quan điểm và lập luận khác nhau, thậm chí trái chiều, để cùng hướng đến những lựa chọn hợp lý. Ít nhất cũng để nhà điều hành cân nhắc, khi mà họ đang quản lý một thị trường chưa hoàn hảo, hay một thị trường chưa hội đủ những điều kiện cần cho một lựa chọn nào đó, dù mong muốn.

Mặt khác, kiến nghị về tăng biên độ nói trên không hoàn toàn độc lập, mà nằm trong tổng hòa nhiều kiến nghị khác xoay quanh cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay.

Theo Vneconomy:
http://vneconomy.vn/20140626115617308P0C6/ngan-hang-nha-nuoc-chon-dan-dat-hay-chay-theo-thi-truong.htm


Nợ xấu liên tiếp tăng trở lại

Bất chấp nỗ lực xử lý, nợ xấu của các ngân hàng liên tiếp tăng trở lại những tháng đầu năm 2014...

Nợ xấu liên tiếp tăng trở lại
Việc tín dụng những tháng đầu năm tăng trưởng quá thấp khiến mẫu số tổng dư nợ không thể mở rộng để một phần “giúp” co tỷ lệ nợ xấu lại.


Theo dữ liệu Ngân hàng Nhà nước vừa cập nhật, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng liên tiếp tăng và chính thức vượt mốc 4%.

Cụ thể, sau khi giảm rất mạnh từ 4,55% tháng 11/2013 xuống chỉ còn 3,61% tháng 12/2013 (tháng chốt sổ cuối năm và cao điểm bán lại nợ xấu cho Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng - VAMC), nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam đã liên tiếp tăng qua các tháng đầu năm 2014.

Tháng 1/2014, nợ xấu tăng trở lại và lên mức 3,74%, tháng 2 lên 3,86%, tháng 3 lên 3,93% và số liệu cập nhật mới nhất và gần nhất đến tháng 4/2014 đã chính thức vượt mốc 4% với 4,03%.

Như vậy, nợ xấu đã tăng nhanh trở lại, bất chấp nỗ lực xử lý nợ xấu của hệ thống thể hiện rõ trong hơn một năm qua, đặc biệt là cả sau khi có giải pháp can thiệp của VAMC.

Cũng lưu ý rằng, những con số trên là tổng hợp từ báo cáo của các tổ chức tín dụng, khác với con số qua kênh giám sát từ xa của Ngân hàng Nhà nước; cũng như đã được “bóc” đi khoảng 47.000 tỷ đồng nợ xấu mà VAMC mua lại tính đến ngày 15/6/2014.

Như VnEconomy đề cập ở một bài viết gần đây, có nhiều nguyên do khiến nợ xấu tăng trở lại. Mặt khác, việc tín dụng những tháng đầu năm tăng trưởng quá thấp khiến mẫu số tổng dư nợ không thể mở rộng để một phần “giúp” co tỷ lệ nợ xấu lại.
Theo Vneconomy:
http://vneconomy.vn/2014063002502569P0C6/no-xau-lien-tiep-tang-tro-lai.htm

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

Xử phạt 400 triệu thật khó hiểu

Chủ tiệm vàng Hoàng Mai: Xử phạt 400 triệu thật khó hiểu

 Liên quan đến vụ việc Phó chủ tịch UBND TP.HCM ra quyết định xử phạt 400 triệu đồng đối với ông Dương công Kiên (33 tuổi, ngụ Q.Bình Thạnh) về hành vi mua bán ngoại tệ trái phép ở tiệm vàng Hoàng Mai, những người trong cuộc đã có ý kiến...
Không tìm thấy 100 USD tang vật
Trao đổi với VietNamNet, bà Nguyễn Thị Thanh Mai (SN 1964, ngụ Q.Bình Thạnh, TP.HCM), giám đốc công ty TNHH một thành viên xuất nhập khẩu vàng Hoàng Mai (số 384, đường Bùi Hữu Nghĩa, P.2, Q.Bình Thạnh) cho biết rất bất ngờ với quyết định xử phạt trên.
Nói về quyết định xử phạt của UBND TP.HCM đới với ông Dương Công Kiên, bà Mai nhận định có nhiều chuyện khó hiểu xung quanh cách làm việc của cơ quan công quyền.
hoàng mai, vàng,
Tiệm vàng Hoàng Mai tạm ngưng kinh doanh từ ngày bị khám xét
Trước tiên đó là hành vi mua bán ngoại tệ, tụ thể là 100 USD mà CA Q.Bình Thạnh cáo Kiên. Bà Mai khẳng định, trong ngày 24/4 cơ quan chức năng khám xét tiệm vàng của bà đã không hề bắt quả tang hay phát hiện ông Kiên đang mua bán USD với người khách lạ nào.
Khám xét trên người ông Kiên, phạm vi kinh doanh và cả các tầng lầu CA cũng không tìm thấy bất kỳ tờ 100 USD nào được cho là tang vật. Công an cũng không tìm thấy hình ảnh camera ghi lại được ông Kiên mua bán USD với người khách nào.
“Thời điểm khám xét tôi đi công việc bên ngoài. Lúc về thì họ (lực lượng khám xét - PV) buộc tôi phải giao chìa khóa mở két sắt để khám xét. Sau đó họ tiến hành niêm phong, tạm giữ số ngoại tệ trong két sắt của tôi nói để điều tra”, bà Mai nói.
Làm việc tại trụ sở CA Q.Bình Thạnh sau đó, bà Mai được trả 1.164 USD, trong khi số ngoại tệ công an thống kê lúc tạm giữ trong két sắt của Mai là 2.264 USD. Vì không được trả đúng với số tiền đã bị tạm giữ nên bà Mai khẳng định không ký nhận biên bản giao trả này.
Như vậy có thể thấy việc 100 USD mà cơ quan chức năng Q. Bình Thạnh cáo buộc ông Kiên mua bán có nhiều mật mờ.
hoàng mai, vàng,
Ông Dương Công Kiên không đồng tình với quyết định xử phạt của UBND TP.HCM
Biên bản vi phạm ngày 19/5/2014 từ đâu ra?
Điều ông Dương Công Kiên bức xúc là bà Nguyễn Thị Hồng, Phí Chủ tịch UBND TP.HCM ký quyết định xử phạt 400 triệu đồng đối với ông vì hành vi mua bán ngoại tệ trái phép căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính số 26 được CA Q.Bình Thạnh lập ngày 19/5/2014.
Ông Kiên cho biết không hề biết biên bản ngày 19/5/2014 có gì trong đó. “Tôi không biết họ lập biên bản này lúc nào, ở đâu và dựa vào cái gì, trong khi ngày họ khám xét tiệm vàng là ngày 24/4/2014. Tại sao lúc đó không ai đưa ra biên bản nào mà sau đó lại xuất hiện biên bản này”, ông Kiên nói.
hoàng mai, vàng,
Bà Mai lúc thời điểm tiệm vàng bị khám xét
Thêm một điều ông Kiên không đồng tình với quyết định xử phạt này là mức phạt tiền 400 triệu đồng áp dụng đối với tổ chức, trong khi đó ông Kiên khẳng định mình không phải là nhân viên của tiệm vàng Hoàng Mai mà chỉ là người tạm trú tại địa chỉ tiệm vàng, lúc CA Q.Bình Thạnh khám xét ông chỉ là người trông nhà cho bà Mai.
“Ông Kiên không có bất kỳ hợp đồng lao động nào với công ty của tôi nên không thể nói ông ấy là nhân viên được”, chủ tiệm vàng Hoàng Mai khẳng định.
Không đồng tình với quyết định xử phạt trên nên ông Dương Công Kiên đã làm đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND TP.HCM và đã được tiếp nhận hồ sơ.
Theo Vietnamnet:
http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/182026/chu-tiem-vang-hoang-mai--xu-phat-400-trieu-that-kho-hieu.html

Vụ tiệm vàng Hoàng Mai: Đổi 100 USD, phạt 400 triệu đồng

Ông Dương Công Kiên (33 tuổi, ngụ TP.HCM), người bị UBND TP.HCM ra quyết định xử phạt 400 triệu đồng vì thu đổi 100 USD trái phép, vừa có đơn khiếu nại.


Ông Dương Công Kiên với tờ đơn khiếu nại không vi phạm hành chính

Chiều 19-6, ông Dương Công Kiên và bà Nguyễn Thị Thanh Mai (giám đốc Công ty TNHH một thành viên xuất nhập khẩu vàng Hoàng Mai, đường Bùi Hữu Nghĩa, Q.Bình Thạnh) xác nhận đã nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng do bà Nguyễn Thị Hồng, phó chủ tịch UBND TP.HCM, ký.
Theo bà Mai, quyết định xử phạt 400 triệu đồng đối với cá nhân ông Kiên về hành vi hoạt động ngoại hối mà không được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép. Bà Mai cũng cho biết ngay sau khi nhận quyết định xử phạt này, ông Kiên đã làm đơn khiếu nại gửi chủ tịch UBND TP vì có nhiều điểm không đồng tình. Đơn đã được văn phòng tiếp công dân (UBND TP) tiếp nhận.
Camera không ghi nhận hình ảnh giao dịch ngoại tệ?
Trong đơn khiếu nại gửi chủ tịch UBND TP, ông Kiên cho rằng ông không có hành vi mua bán 100 USD như Công an Q.Bình Thạnh cáo buộc vào ngày 24-4. Bằng chứng ông Kiên dẫn ra là vào thời điểm Công an Q.Bình Thạnh (khoảng 13g ngày 24-4) ập vào khám xét không hề thu giữ được tờ USD nêu trên, dù đã kiểm tra người và khu vực xung quanh nên không thể lập biên bản vi phạm. Sau đó, bằng lệnh khám xét do chủ tịch UBND Q.Bình Thạnh ban hành, Công an Q.Bình Thạnh khám xét toàn bộ tòa nhà, cũng không thu giữ được tờ USD tang vật. Do không tìm được tang vật, cuối cùng các cán bộ thực hiện lệnh khám xét buộc bà Nguyễn Thị Thanh Mai giao chìa khóa (bà Mai từ bên ngoài về), mở két sắt, lấy nhiều ngoại tệ trong két sắt để niêm phong, thu giữ. Thực chất tờ USD mà Công an Q.Bình Thạnh cho là tang vật vi phạm được lấy từ trong két sắt của bà Mai, không phải là tang vật vi phạm.
Theo ông Kiên, khi Công an Q.Bình Thạnh thu giữ camera an ninh tại cửa hàng, nếu có việc ông thu đổi ngoại tệ của thanh niên lạ mặt nào đó thì hình ảnh sẽ thể hiện rất rõ ràng, cơ quan chức năng có thể sử dụng hình ảnh đó để chứng minh hành vi vi phạm. Tuy nhiên, camera không ghi nhận bất kỳ hình ảnh nào chứng minh ông Kiên có giao dịch ngoại tệ với người thanh niên lạ mặt.
Đơn khiếu nại của ông Kiên nêu: “Theo quyết định xử phạt của UBND TP, căn cứ để ra quyết định là biên bản vi phạm hành chính số 26 do Công an Q.Bình Thạnh lập ngày 19-5-2014. Tuy nhiên tôi không hề được Công an Q.Bình Thạnh cung cấp biên bản này để tôi ký, sau khi lập xong cũng không gửi cho tôi theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính”. Ông Kiên còn khiếu nại nội dung mình không phải là nhân viên của tiệm vàng Hoàng Mai như quyết định của UBND TP nêu, vì ông không có hợp đồng lao động hay thỏa thuận làm việc với Công ty TNHH một thành viên xuất nhập khẩu vàng Hoàng Mai. Vào thời điểm 13g ngày 24-4, khi Công an Q.Bình Thạnh vào khám xét, ông Kiên là người trông nhà giùm, tiệm vàng không hoạt động kinh doanh. “Vì sao cho rằng tôi vi phạm vào ngày 24-4, nhưng tới ngày 19-5 Công an Q.Bình Thạnh mới lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi của tôi, lại không cho tôi biết về biên bản này?” - ông Kiên nói.
Tiệm vàng Hoàng Mai - nơi xảy ra vụ việc 

Băn khoăn về tính pháp lý
Để trao đổi về nội dung ông Kiên khiếu nại, chúng tôi đã liên lạc với thượng tá Nguyễn Hoàng Thắng, trưởng Công an Q.Bình Thạnh. Ông Thắng cho biết: “Vụ việc được Công an TP thụ lý điều tra, sau đó đề xuất UBND TP ra quyết định xử phạt”.
Luật sư Trần Hải Đức, Đoàn luật sư TP.HCM, cho rằng: UBND TP.HCM căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính lập ngày 19-5 về hành vi hoạt động ngoại hối (thu đổi ngoại tệ) mà không được cấp có thẩm quyền cấp phép. Tuy nhiên, việc vi phạm xảy ra vào ngày 24-4, vì sao không có biên bản vi phạm ngay khi phát hiện hành vi, mà lại lập sau đó với những chi tiết mà người vi phạm cho rằng có điều gì đó mập mờ, không rõ ràng.
Cũng theo luật sư Đức, nếu cho rằng các biên bản, tang vật được thu thập hợp pháp, đủ điều kiện ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với ông Kiên thì mức phạt 400 triệu đồng, điều khoản áp dụng để ra quyết định này cũng không đúng. Theo điểm d, khoản 3, điều 18, nghị định 202/2004 NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, hành vi mua bán, thanh toán, cho vay ngoại tệ với nhau... mức phạt từ 5 đến 10 triệu đồng. Sau đó, nghị định 95/2011 NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 202 bổ sung mức phạt cho hành vi trên là 50-100 triệu đồng (hành vi mua bán ngoại tệ). Do đó, UBND TP.HCM ra quyết định xử phạt ông Kiên với hành vi “hoạt động ngoại hối” là chưa phù hợp.

Theo Tuổi Trẻ:
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Phap-luat/613703/vu-tiem-vang-hoang-mai-doi-100-usd-phat-400-trieu-dong.html

 

Thứ Tư, 18 tháng 6, 2014

Cảnh sát hình sự bắn thủng bụng một thanh niên

Tô Trung sau khi phẫu thuật, đang được theo dõi điều trị tại bệnh viện tỉnh Ninh Thuận. Ảnh: M.TRÂN

Nạn nhân được xác định là Tô Trung (29 tuổi, ngụ thôn Lạc Sơn, huyện Cà Ná, Thuận Nam).
Theo người dân, Trung đang đi xe máy trên quốc lộ thì bị hai thanh niên đi xe máy rượt đuổi. Khi nghe tiếng súng nổ thì Trung tấp xe váo quán tạp hoá ven đường rồi ngã xuống trên vũng máu. Trung đã được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận để cấp cứu.
Các bác sĩ tại đây cho biết Trung bị một viên đạn xuyên thủng từ bụng sau và gây thủng ruột non, dạ dày. Sau nhiều giờ phẫu thuật, Trung đã qua cơn nguy kịch. Sáng 18-6, dù còn rất mệt nhưng Trung vẫn nói thấy hai thanh niên lạ mặt bảo dừng xe, Trung sợ là bọn cướp nên không dám ngừng.
Trả lời về vụ việc này, Đại tá Huỳnh Cầm, Trưởng Công an huyện Thuận Nam, cho biết công an huyện đang triển khai công tác phòng chống tội phạm trên địa bàn huyện từ 17-6. Trong ngày huyện nhận thông tin có bốn thanh niên đến xã Cà Ná tiêu thụ xe gian nên truy quét thì các đối tượng quăng xe xuống biển. Khi công an vớt xe lên thì xe không có biển số.
Tối 17-6, hai chiến sĩ hình sự thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an huyện trên đường truy bắt đối tượng thì phát hiện ba thanh niên đi xe máy không đội mũ bảo hiểm và có nhiều khả nghi nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Tuy nhiên, một xe chạy thoát, còn một xe của Trung. Chiến sĩ hình sự đuổi theo, nổ phát súng chỉ thiên nhưng Trung không dừng xe nên nổ tiếp phát thứ hai vào bánh xe máy nhưng đã trúng vào phần hông của Trung. Sau đó, các chiến sĩ hình sự đã đưa Trung đi cấp cứu.
Sáng 18-6, Công an huyện Thuận Nam đã cử cán bộ đến bệnh viện thăm hỏi, hỗ trợ một phần kinh phí cho Trung. Đại tá Cầm cho biết hiện vụ việc đang được Phòng PC 45 Công an tỉnh thụ lý, điều tra theo thẩm quyền nên công an huyện chưa thể cung cấp tên họ hai chiến sĩ hình sự trong vụ nổ súng được.
                                                                   MINH TRÂN
Theo PLO:
http://plo.vn/thoi-su/canh-sat-hinh-su-ban-thung-bung-mot-thanh-nien-khong-doi-mu-bao-hiem-476405.html

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2014

Ngôn luận

Học giả Trung Quốc can đảm nói thẳng về biển Đông

 Để giúp dư luận và nhân dân Trung Quốc hiểu rõ sự thật, học giả Lý Lệnh Hoa đã công bố nhiều bằng chứng, chứng cứ về nguồn gốc các biển đảo trên biển Đông và đường lưỡi bò sai trái, nguy hiểm.
Nhà nước Trung Quốc ngày càng mở rộng hành động độc chiếm biển Đông, xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Ở trong nước, nhà nước Trung Quốc không ngừng tuyên truyền cho người dân bằng những thông tin ngụy tạo, sai sự thật như "Việt Nam vi phạm chủ quyền Trung Quốc", "Việt Nam ức hiếp Trung Quốc", "Nước nhỏ ăn hiếp nước lớn", v.v...
Song không phải vì thế mà tất cả người dân Trung Quốc đều sai lầm tin vào những lời tuyên truyền sai trái đó.
Đường lưỡi bò, Chủ quyền Trường Sa Hoàng Sa, thư tịch cổ, châu bản, Trung Quốc, Việt Nam, cưỡng chiếm Hoàng Sa, bản đồ, sử sách, hải đội Hoàng Sa, Lý Lệnh Hoa
Học giả Lý Lệnh Hoa
Từ thiền sư Thích Đại Sán đến học giả Lý Lệnh Hoa
Thế kỷ 17, thiền sư Thích Đại Sán đã qua Việt Nam, ghi chép đầy đủ và trung thực chủ quyền của nhà Nguyễn ở Đàng Trong với Vạn Lý Trường Sa. Lúc ấy, vương triều Trung Hoa đang "quay lưng ra biển", chỉ quan tâm đến lục địa. Song những ghi chép, quan sát, cảm nhận của vị thiền sư Trung Quốc danh tiếng đã cho thế giới và người Trung Quốc góc nhìn về sự thật ở biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Vào đầu thế kỷ 20, Trung Quốc bắt đầu "dòm ngó" và nhảy vào cưỡng chiếm Hoàng Sa, một số quần đảo Trường Sa. Và, tham vọng chưa dừng tại đây, "đường lưỡi bò" được vẽ ra chiếm gần trọn biển Đông từ "một phút giây hứng khởi bất thường của một viên chức Trung Hoa Dân Quốc" đã trở thành chính sách bành trướng của nhà nước Trung Quốc xuyên suốt từ giữa thế kỷ 20 đến thế kỷ 21.
Tuy nhiên, ngay tại chính TQ, vẫn có những người dũng cảm, bất chấp nguy hiểm để nói lên sự thật với nhân dân, đồng bào của mình và nhân dân trên thế giới. Một trong số đó là học giả Lý Lệnh Hoa.
Học giả Lý Lệnh Hoa sinh năm 1946. Từ năm 1964 đến 1970 học khoa Hải dương học tại Học viện Sơn Đông. Sau khi ra trường, từ năm 1970 đến 2006 ông công tác tại Trung tâm thông tin Hải Dương quốc gia (ở Thiên Tân).
Nhờ môi trường công tác tại Trung tâm thông tin Hải dương quốc gia, ông đã tiếp cận và nghiên cứu nhiều tài liệu lịch sử, tài liệu khoa học về biển đảo và các vấn đề xung quanh liên quan. Từ đó, ông liên tục nói lên sự thật, chân lý và lẽ phải. Ông có viễn kiến sâu sắc, có trách nhiệm với đất nước và nhân dân Trung Quốc cũng như các nước láng giềng.
Ngay từ đầu ông đã khẳng định: "Trung Quốc muốn phát triển kinh tế và nâng cao uy tín thì cần phải tích cực và chủ động giải quyết vấn đề Nam Hải (Biển Đông - TG), phải xác lập được cơ chế đàm phán, thương lượng song phương và đa phương hữu hiệu, được các nước liên quan cùng chấp nhận, thiết thực sớm chấm dứt cục diện xung đột dài ngày ở Nam Hải (Biển Đông - TG).
Những bài viết sắc bén, có căn cứ khoa học, pháp lý và lịch sử phản bác lại lập luận sai trái của Trung Quốc về Biển Đông của ông không được các báo chính thống của Trung Quốc đăng tải. Do đó, ông đã tích cực sử dụng blog cá nhân để truyền tải đến nhân dân Trung Quốc sự thật và lẽ phải. Mới đây nhất khi Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, ông đã nghiêm khắc cảnh báo tai họa cho đất nước và nhân dân của mình: "Trung Quốc đang tự biến mình thành kẻ thù của các nước láng giềng và thế giới văn minh".
Trên blog cá nhân ngày 21/5/2014, Lý Lệnh Hoa viết: "Truyền thông Trung Quốc đã đăng tải quá nhiều phát biểu vô trách nhiệm về những vấn đề về liên quan đến biển Đông. Họ chẳng hiểu gì Công ước 1982 hay Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), họ bỏ qua lý lẽ và thậm chí coi thường Công ước đã ký. Những gì họ nói, họ biết về "đường lưỡi bò" là vô cùng cẩu thả. Tất cả các đường ranh giới trên đất liền và hải phận trên thế giới đều là những đường liền mạch, rõ ràng, còn "đường lưỡi bò" chỉ là một vệt 9 đoạn đứt quãng quá mơ hồ..."
 "Trung Quốc là một quốc gia lục địa. Từ xa xưa cho đến tận đời nhà Minh, nhà Thanh, Trung Quốc vốn không quan tâm nhiều đến biển. Làm sao lại có thể dám nói rằng, người Trung Quốc từ xa xưa đã vươn ra hoạt động trên một vùng biển rộng đến hơn 200 vạn km2 mà Trung Quốc đang đòi hỏi hiện nay? Đấy là một sự ngụy tạo, bóp méo sự thật lịch sử".
Đường lưỡi bò, Chủ quyền Trường Sa Hoàng Sa, thư tịch cổ, châu bản, Trung Quốc, Việt Nam, cưỡng chiếm Hoàng Sa, bản đồ, sử sách, hải đội Hoàng Sa, Lý Lệnh Hoa
Bản đồ đường lưỡi bò vẽ và viết bằng tay gốc bị phát hiện do một viên chức vẽ.
30 năm kiên trì sự thật
Để giúp dư luận và nhân dân Trung Quốc hiểu rõ sự thật, học giả Lý Lệnh Hoa đã công bố nhiều bằng chứng, chứng cứ về nguồn gốc các biển đảo trên biển Đông và đường lưỡi bò sai trái, nguy hiểm. Chính ông đã tìm ra nguồn gốc ra đời "đường lưỡi bò" và gọi tác giả và cơ quan chuyên môn này là "Ổ sáng tác ra đường lưỡi bò". Và, "Đường chín đoạn do tiền nhân của chúng ta vạch ra không có kinh độ, vĩ độ cụ thể, cũng chẳng có căn cứ pháp lý".
Chính nhờ ông mà cả thế giới biết xuất xứ về "đường lưỡi bò" (Cửu tuyến đoạn) là một sản phẩm do một công chức bình thường của Trung Quốc vẽ sau một chuyến đi qua biển Đông. Ông nhiều lần phát biểu công khai: "Đường 9 đoạn" chỉ là đường ảo, trong khi đường biên giới trên biển phải được quốc tế thừa nhận là có thực". Khi Trung Quốc xây dựng thành phố Tam Sa trên quần đảo Hoàng Sa đánh chiếm của Việt Nam, ông thẳng thừng tuyên bố: "Không nên làm trò hề cho thế giới cười".
Ông đã dành gần cả cuộc đời nghiên cứu và công bố sự thật với mong muốn "Không để Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc ảo mộng". Đặc biệt từ năm 2005 đến nay, trước sự bành trướng ngày càng hung hăng của chính quyền Trung Quốc, học giả Lý Lệnh Hoa đã nỗ lực không ngừng để cung cấp cho người dân và giới nghiên cứu Trung Quốc những bằng chứng, lý lẽ, luật pháp quốc tế để "lay tỉnh" mọi người thoát khỏi "ác mộng" và "đại họa".
Ngày 14/6/2012, Viện nghiên cứu kinh tế Thiên Tắc Trung Quốc tổ chức Hội thảo Tranh chấp biển Đông: Chủ quyền quốc gia và quy tắc quốc tế.Học giả Lý Lệnh Hoa được mời tham gia cùng nhiều học giả, nhà nghiên cứu của Trung Quốc.
Tại đây, ông đã thẳng thắn đánh giá hành vi của Trung Quốc trên biển Đông như sau: "Không thể xỏ giày trước rồi mới đi tất". Ông đã chứng minh cho các diễn giả thấy những sai trái của Trung Quốc khi dùng vũ lực xâm chiếm cưỡng đoạt nhiều đảo và biển Đông. Chiếm xong rồi tìm cách "chứng minh". Vì vốn không phải sự thật nên không chứng minh được, đành phải viện dẫn nhiều dẫn chứng vu vơ, vô căn cứ.
Ông tỏ ra lo lắng cho cách hành xử của nhà nước Trung Quốc và nhiều lần lên tiếng. Ông nói tại hội thảo : "Bởi vậy Bộ Ngoại giao và phía quân đội (Trung Quốc) có lúc rất cứng rắn trên vấn đề này, tôi cảm thấy làm như thế là xem xét vấn đề chưa chu toàn. Tôi đã viết rất nhiều thư gửi cho các cán bộ liên quan của Bộ Ngoại giao (Trung Quốc -TG) nhưng cũng không có thư trả lời..."
Theo Vietnamnet:
http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/181308/hoc-gia-tq-can-dam-noi-thang-ve-bien-dong.html

Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2014

Bằng Chứng

       Những tư liệu mà phía Trung Quốc gửi tới Liên hợp quốc là cố ý bóp méo sự thật để biện minh cho hành vi sử dụng vũ lực xâm lược quần đảo Hoàng Sa từ năm 1974.

Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ. Ảnh: An ninh Thủ đô.
Ngày 9/6, Vương Dân, Phó đại diện thường trực Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc đã gửi thư cho Chủ tịch HĐBA LHQ kèm theo cái gọi là "chứng cứ" Việt Nam thừa nhận 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa mà họ gọi là Tây Sa, Nam Sa là của Trung Quốc. "Chứng cứ" này bao gồm Công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958, Sách giáo khoa địa lý lớp 9, Tập bản đồ thế giới…xuất hiện vào những năm 60, 70 của thế kỷ trước. 
Những tài liệu mà Trung Quốc đã trích dẫn này là có thật. Tuy nhiên, nội dung của các tài liệu này cụ thể ra sao và giá trị pháp lý của chúng như thế nào? Đó là những câu hỏi  cần được phải làm sáng tỏ trên tinh thần thật sự khách quan, trung thực, cầu thị…:
Thứ nhất, xin nói về hình thức của các tư liệu này:
Tài liệu đầu tiên mà Trung Quốc thường xuyên nêu lên trong tất cả các lập luận về cái gọi là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từng thừa nhận “chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa, Nam Sa”. Thực chất đây chỉ là bức thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi cho cố Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1958 có liên quan đến Tuyên bố quy định về chiều rộng lãnh hải 12 hải lý của CHND Trung Hoa; hoàn toàn không phải là “Công hàm” như phía Trung Quốc đã nhấn mạnh.
Các tài liệu khác như Sách giáo khoa địa lý lớp 9, Tập bản đồ thế giới…thực chất đây là những tài liệu tham khảo phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu, học tập…
Ngoài ra, còn có một số nội dung khác đã được trích dẫn chủ yếu là những cuộc  trao đổi, phát biểu cá nhân  của một số cán bộ ngoại giao trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Thứ 2, nói về nội dung của các tài liệu này:
Nội dung bức thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: Căn cứ vào câu chữ của bức thư này thì rõ ràng không hề có  một câu chữ nào đề cập đến “Tây sa”, “Nam Sa”:… “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”
Nội dung các tư liệu khác đúng như những gì mà Trung Quốc đã dẫn.
Lá thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi người đồng cấp Chu Ân Lai năm 1958 không phải "Công hàm" như Trung Quốc suy diễn, và cũng không có câu chữ nào đề cập đến cái gọi là "Tây Sa", "Nam Sa".
Thứ 3, nói về hoàn cảnh ra đời của những tài liệu này:
Xin lưu ý rằng tất cả các tài liệu nêu trên  đều xuất hiện vào thời điểm trước những năm 70 của thế kỷ trước. Đó là thời điểm mà tình hình trong nước và  quốc tế về chính trị, ngoại giao, pháp lý… mang những nét đặc thù liên quan rất lớn đến giá trị pháp lý của các tư liệu nói trên, cụ thể là:
Đất nước tạm thời chia làm 2 miền với 2 chủ thể bình đẳng trong quan hệ quốc tế, có trách nhiệm quản lý lãnh thổ ở 2 niềm Nam, Bắc, được phân chia bởi vỹ tuyến 17 theo quy định của Hiệp định Geneve 1954.
Sau một thời gian dài, cả dân tộc Việt Nam, bất kể già trẻ trai gái, không phân biệt quan điểm chính trị, thành phần giai cấp…đều dốc lòng, dốc sức cho cuộc kháng chiến chông ngoại xâm, giành quyền độc lập, tự do, hạnh phúc…bằng nhiều phương thức có lợi nhất cho công cuộc kháng chiến cứu quốc, chống giặc ngoại xâm…Trong hoàn cảnh đó, sau khi hòa bình được lập lại, biết bao khó khăn bộn bề mà cả chính thể  2 miền Nam Bắc đều phải tập trung ưu tiên giải quyết… Cũng cần phải nói một cách thẳng thắn rằng những nội dung liên quan đến việc bảo vệ chủ quyền  2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cả trên thực địa và trên mặt trận đấu tranh ngoại giao pháp lý, cũng còn nhiều bất cập, thậm chí còn có những sơ suất, sai sót…Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng điều này không phải xuất phát từ ý thức, mà chủ yếu là từ thực lực, nhận thức, hiểu biết...do thiếu thông tin hoặc thông tin không được cập nhật và tập trung.
Ngoài ra, có vấn đề không thể không đề cập đến khi nghiên cứu, đánh giá những nội dung nói trên; đó là những chủ trương, chính sách của các quốc gia, đặc biệt là các cường quốc trong khu vực và quốc tế, trước những thay đổi về địa-chính trị, địa- chiến lược, địa-kinh tế…trong khu vực có liên quan đến vị trí, vai trò của 2 quần đảo này giữa Biển Đông. Trong đó không thể không nói đến tư duy ý thức hệ được hình thành và liên kết trong thời kỳ chiến tranh lạnh…
Xuất phát từ bối cảnh chính trị đó, sự xuất hiện các tài liệu nói trên, thậm chí có cả những hành động không làm tròn được sứ mệnh bảo vệ, quản lý trên thực tế quần đảo Hoàng Sa và một số đảo trong quần đảo Trường Sa cũng là điều có thể lý giải được…
Thứ 4, những tài liệu Trung Quốc dẫn ra hoàn toàn không có giá trị pháp lý
Dưới ánh sáng của Luật pháp và Thực tiễn quốc tế có liên quan đến quyền thụ đắc lãnh thổ và theo cách nhìn nhận đánh giá của giới luật gia, luật sư, chúng ta hãy xem xét giá trị pháp lý của các tư liệu này: Có phải đó là bằng chứng có giá trị  pháp lý chứng minh rằng Nhà nước Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, hay nói một cách khác, các tài liệu này có phải là những bằng chứng chứng minh rằng Nhà nược Việt Nam đã từ bỏ chủ quyền của mình đối Hoàng Sa, Trường Sa hay không? Câu trả lời là không. Vì sao?
Phải khẳng định rằng, cho dù nội dung của các tư liệu nói trên có nói đến “Tây Sa và Nam Sa của Trung Quốc” thì chúng cũng chỉ là những tư liệu vô giá trị pháp lý trước ánh sáng của Luật pháp và Thực tiễn quốc tế, bởi vì:
Chúng chỉ là những tư liệu, những phát biểu cá nhân, không phải là những văn bản quy phạm pháp luật được phê chuẩn bởi Cơ quan quyền lực nhà nước, hoặc bởi những tổ chức, cá nhân được ủy quyền đại diện hợp pháp cho Cơ quan quyền lực đó.
Vào thời điểm đó, đại diện cho Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ, quản lý lãnh thổ đối với 2 quần đảo này theo quy định của Hiệp định Geneve là chính quyền miền Nam Việt Nam, lúc đầu là Quốc gia Việt Nam, về sau là Việt Nam Cộng hòa, kế đến là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Việt Nam Cộng hòa, đại diện cho dân tộc Việt Nam tiếp quản chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ Cộng hòa Pháp chờ ngày tổng tuyển cử hòa bình theo Hiệp định Geneva 1954.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có trách nhiệm nghĩa vụ pháp lý trong việc bảo vệ quản lý vùng lãnh thổ ở phía Nam vỹ tuyến 17. Đó là một thực tế pháp lý rõ ràng, không thể chối cãi được, cho dù về mặt chính trị, tư tưởng, quan hệ ngoại giao, có thể có lúc, có nơi, chính thể Việt Nam Cộng hòa đã bị lên án, phủ nhận…Nhưng đó lại là chuyện khác, chuyện chính trị, ý thức hệ, lập trường giai cấp. Mà chuyện chính trị, tư tưởng, ý thức hệ không có giá trị phủ nhận, chối bỏ những quy định pháp lý trong quan hệ quốc tế.
Trong thực tế, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. 
Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân Việt Nam Cộng hòa chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.
Và để chứng minh vai trò của Chính quyền miền Nam với tư cách là đại diện hợp pháp cho Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ, quản lý chủ quyền, lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa  như thế nào, chúng tôi xin trích dẫn các sự kiện quan trọng và có ý nghĩa say đây:
Trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946 đầu năm 1947, mặc dù Việt Nam đã tuyên bố độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, không còn ràng buộc vào Hiệp định Patenotre 1884, song Pháp cho rằng theo Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn nằm trong khối Liên hiệp Pháp, về ngoại giao vẫn thuộc Pháp, nên Pháp có nhiệm vụ thực thi quyền đại diện Việt Nam trong vấn đề chông lại mọi xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
08/05/14 08:09
(GDVN)-Sự kiện giàn khoan Hải dương 981 “tác nghiệp tại Nam Hải” đây là một bước tiến mới nguy hiểm, với những toan tính rất tinh vi của Trung Quốc...
Theo Hiệp định ngày 8 tháng 3 năm 1949, Pháp dựng nên chính quyền thân Pháp, gọi là Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu; tuy nhiên, trong thực tế quân đội Pháp vẫn làm chủ Biển Đông , trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 
Năm 1949, Tổ chức khí tượng thế giới (OMM: Organisation Mondiale de   Meteorologie) đã chấp nhận đơn xin đăng ký danh sách các trạm khí tượng do Pháp xây dựng tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vào danh sách các trạm khí tượng thế giới: Trạm Phú Lâm, số hiệu 48859, Trạm Hoàng Sa số 48860, Trạm Ba Bình số 48419.
Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Pháp ký với cựu hoàng Bảo Đại Hiệp định Hạ Long, trao trả độc lập cho chính phủ Bảo Đại, tháng 4, Hoàng thân Bửu Lộc, tuyên bố khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa.
Ngày 14 tháng 10 năm 1950, Tổng trấn Trung phần Phan Văn Giáo đã chủ trì việc bàn giao quản lý quần đảo Hoàng Sa giữa Chính phủ Pháp và Chính phủ Bảo Đại.
03/03/14 06:57
(GDVN) - Cho rằng không kiện Trung Quốc thì họ sẽ xuống nước ở Biển Đông là không có cơ sở thực tế và hết sức nguy hiểm. Kiện lúc này là thích hợp, đúng lúc, cần thiết.
Từ 5 tháng 9 đến 8 tháng 9 năm 1951, Hội nghị San Francisco có đại diện của 51 nước tham dự để ký kết Hòa ước với Nhật. Tại phiên họp toàn thể mở rộng, ngày 5 tháng 9, với 48 phiếu chống, 3 phiếu thuận đã bác bỏ đề nghị của Ngoại trưởng Gromyco (Liên Xô cũ) về việc tu chỉnh khoản 13 của Dự thảo Hòa ước, trong đó có nội dung : Nhật thừa nhận chủ quyền của CHND Trung Hoa đối với quần đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa về phía Nam .
Ngày 7 tháng 9 năm 1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng của Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã long trọng tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt nam: “et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour étouffer les  germes de discorde, nous affirmons nó droits sur les iles de Spratley et de Paracel qui de tout temps ont fait partie du Vietnam”. Không một đại biểu nào trong Hội nghị này có bình luận gì về tuyên bố này. Ngày 8 tháng 9 năm 1951, Hòa ước với Nhật được ký kết. Điều 2, Đoạn 7, của Hòa ước đã ghi rõ: “Nhật bản từ bỏ chủ quyền, danh nghĩa và tham vọng đối với các quần đảo Paracel và Sprathly”(khoản f).
Tháng 4 năm 1956, khi quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, quân đội Quốc gia Việt Nam, về sau là Việt Nam Công hòa, đã ra tiếp quản  nhóm  phía Tây quàn đảo Hoàng Sa của Việt nam” và tuyên bố khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam.
Ngày 22 tháng 8 năm 1956, Tàu HQ04 của Hải quân Việt Nam Cộng hòa đã ra quần đảo Trường Sa cắm bia chủ quyền, dựng cờ, bảo vê quần đảo trước hành động  xâm chiếm trái phép, vi phạm chủ quyền Việt Nam của Đài Loan và Philippines.
25/12/13 07:47
(GDVN) - Đoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù khó khăn nguy hiểm đến đâu.
Ngày 20 tháng 10 năm 1956, bằng  Sắc lệnh 143/VN Việt Nam Cộng hòa đã đặt quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy.
Năm 1960, Việt Nam Cộng hòa đã có quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Bá Thược, cán bộ hành chính hạng 1 tại Tam Kỳ, Quảng Nam, giữ chức Phái viên hành chính Hoàng Sa; ngày 27 tháng 6 năm 1961, bổ nhiệm ông Hoàng Yêm giữ chức Phái viên hành chính Hoàng Sa. 
Ngày 13 tháng 7 năm 1961, VNCH sáp nhập  quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam. Ngày 11 tháng 4 năm 1967, VNCH ban hành Nghị định 809 –NĐ-DUHC cử ông Trần Chuân giữ chức phái viên hành chính xã Định Hải (Hoàng Sa), quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.  
Ngày 21 tháng 10 năm 1969, bằng Nghị định số 709-BNV-HCĐP-26 của Thủ tướng VNCH sáp nhập xã Định Hải ( quần đảo Hoàng Sa) vào xã Hòa Long quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam.
Trước  những hành động xâm chiếm một số đảo ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do Trung Quốc và Philippines tiến hành vào thời điểm giao thời này, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối: Ngày 24 tháng 5 và ngày 8 tháng 6 năm 1956, Việt Nam Cộng hòa ra thông cáo nhấn mạnh quần đảo Hoàng Sa cùng với quần đảo Trường Sa “luôn luôn là một phần của Việt Nam” và tuyên bố khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam.             
Ngày 13 tháng 7 năm 1971, tại Hội nghị ASPEC Manila, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Lắm đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
Ngày 6 tháng 9 năm 1973, Tổng trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng hòa ký Nghị định 420-BNV-HCĐP/26 sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.
Từ 17 tháng 01 đến 20 tháng 01 năm 1974, Trung Quốc huy động lực lượng quân sự đánh chiêm nhóm phía Tây, quần đảo Hoàng Sa. Mặc dù đã chiến đấu quả cảm, nhiều binh sỹ đã anh dũng hy sinh, quân lực Việt Nam Cộng hòa đã không cản phá được hành động xâm lược của Trung Quốc. Tuy nhiên trên mặt trận ngoai giao Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ trước Liện Hợp Quốc và công đồng quốc tế: Ngày 19 tháng 01 năm 1974, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa đã ra Tuyên cáo kêu gọi các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình lên án hành động xâm lược thô bạo của Trung Quốc.
Cũng trong thời gian này, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tuyên bố nêu rõ lập trường của mình trước sự kiên này: 
Chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là những vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc.
Vấn đề biên giới và lãnh thổ là vấn đề mà giữa các nước láng giềng thường có những tranh chấp do lịch sử để lại.
Các nước liên quan cần xem xét vấn đề này trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị và láng giềng tốt và phải giải quyết bằng thương lượng.
Ngày 01 tháng 02 năm 1974, Việt Nam Cộng hòa tăng cường lực lượng đóng giữ, bảo vệ quần đảo Trường Sa trong tình hình Trung Quốc tăng cường sức mạnh tiến hành xâm chiếm lãnh thổ  mà theo nhận định ủa Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu:  “Trung cộng sẽ đánh Trường Sa và xâm chiếm bằng vũ lực giống như Hoàng Sa, có sự tiếp tay hoặc làm ngơ của Mỹ”.
Ngày 02 tháng 7 năm 1974, tại Hội nghị luật biển lần thứ 3 của LHQ tại Caracas, đại biểu Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng tố cáo Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực và khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam , chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo này là không tranh chấp và không thể chuyển nhượng.
Ngày 14 tháng 02 năm 1975, VNCH công bố Sách trắng về chủ quyền của Việt nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Ngày 05 tháng 04 năm 1975, Lực lượng Hải quân quân giải phóng nhân dân miền Nam Việt Nam đã triển khai kế hoạch tiếp quản quần đảo Trường Sa .
Từ ngày 13 đến 28 tháng 4 năm 1975, các lực lượng Quân giải phóng nhân dân Nam Việt Nam dưới sự lãnh đao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa niềm Nam Việt Nam đã tiếp quản các đảo có quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ, đồng thời triển khai lực lượng đóng giữ các đảo, một số vị trí khác trong quần đảo Trường Sa .
Ngày 05 tháng 06 năm 1975, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 02 tháng 07 năm 1976, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 6 (1976-1981), Quốc hội của nước Việt Nam thông nhất được bầu vào ngày 25 tháng 4 năm 1976, đã quyết định đổi tên nước là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoàn toàn có nghĩa vụ quyền hạn tiếp tục quản lý và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Từ những sự kiện nói trên, chúng ta khẳng định rằng tất cả những tư liệu mà phía Trung Quốc đã viện dẫn là cố ý bóp méo sự thật để biện minh cho những hành vi sử dụng vũ lực xâm lược quần đảo Hoàng Sa từ năm 1974 trở về trước, rồi tiếp đến là xâm lược một số bãi cạn ở phỉa Tây Bắc quần đảo Trường Sa năm 1988, và hiện nay đang triển khai một cuộc xâm lăng kiểu mới, một cuộc “xâm lược mềm”…với việc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trong hơn một tháng nay, là uổng công vô ích, không thể thuyết phục được ai.
Điều đó càng làm cho dư luận quốc tế, kể cả đa số người Trung Quốc, hiểu rõ hơn bản chất xâm lược, bất chấp luật pháp quốc tế, đe họa đến hòa bình, an ninh khu vực và thế giới, đe dọa an ninh an toàn hàng hải, hàng không quốc tế…của một số thế lực theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang tồn tại ở Trung Quốc.
Theo Giáo Dục:
http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Tien-si-Tran-Cong-Truc-vach-mat-cac-bang-chung-cua-Trung-Quoc-post145953.gd