“Bom nổ chậm” ở tíndụng ngoại tệ
Lãi suất cho
vay USD đang rẻ hơn VND ít nhất tới 3% - 5%/năm, và đó là nguyên nhân kéo theo
tỷ lệ cho vay/tiền gửi ngoại tệ đã tăng từ 84,3% thời điểm đầu năm 2014 lên
99,5% vào đầu tháng 5/2014.
Vì sao có hiện tượng này và hậu quả của nó là gì?
Áp lực thanh khoản ngoại tệ:
Cập nhật
mới nhất từ Ủy ban Giám sát tài
chính Quốc gia cho thấy, tính đến đầu tháng 5/2014 so với cuối 2013, trong khi
tăng trưởng tiền gửi ngoại tệ giảm 9,1% thì tín dụng ngoại tệ tăng 7,2% và tỷ lệ
cho vay/tiền gửi ngoại tệ tăng từ 84,3% lên 99,5%.
Cùng đó, kể từ đầu tháng 4/2014, lãi suất USD liên ngân hàng có xu hướng tăng từ mức 0,3%/năm lên khoảng 0,5%/năm.
Cùng đó, kể từ đầu tháng 4/2014, lãi suất USD liên ngân hàng có xu hướng tăng từ mức 0,3%/năm lên khoảng 0,5%/năm.
Còn với
tín dụng VND thì sao?
Cùng mốc
thời gian nói trên, cho vay VND giảm 2,6% nhưng tiền gửi VND tăng tới 3,5%, góp
phần đưa tỷ lệ cho vay/tiền gửi VND giảm từ 82,4% xuống 79,9%.
Nếu so
sánh lãi suất USD với lãi suất VND thì có sự chênh lệch khá lớn, đưa chúng
thành điểm đến của tín dụng ngoại tệ.
Cụ thể,
thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, từ 9/6 - 13/6, trong khi lãi suất cho
vay VND từ 7% - 8%/năm (doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao); cho vay ngắn hạn
thông thường từ 9% - 10% và 10,5% - 12%/năm đối với cho vay trung, dài hạn thì
lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 3% - 6% với ngắn hạn) và 5,5% - 7%/năm với
trung, dài hạn.
Đây được
cho là một trong những ma lực gây nên tình trạng tín dụng ngoại tệ tăng vượt trội
so với tín dụng nội tệ.
Tình trạng
này kéo dài đến nay khi một cán bộ nguồn vốn một ngân hàng lớn cho biết, trong
6 tháng đầu năm 2014 so với cuối 2013, tăng trưởng tín dụng ngoại tệ toàn hệ thống
khoảng 10% nhưng tăng trưởng huy động ngoại tệ hoàn toàn âm.
Nếu đà
này tiếp tục, sẽ dẫn đến tình trạng các ngân hàng cho vay vượt quá khả năng huy
động của mình và cầm chắc rủi ro thanh khoản ngoại tệ. Điều tai hại là nếu mất
thanh khoản VND, Ngân hàng Nhà nước còn có thể hỗ trợ qua OMO, tái cấp vốn
nhưng với ngoại tệ thì rất khó vì thiếu các kênh hỗ trợ ngoại tệ từ cơ quan
này.
Có một
kênh duy nhất hỗ trợ ngoại tệ khá hiệu quả giữa Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng
thương mại là cơ chế hoán đổi “đô - đồng” được xác lập cách đây khá lâu nhưng
các cơ chế, cách thức thực hiện chưa được rõ ràng và chuẩn hóa như các nghiệp vụ
OMO hay tái cấp vốn.
Hay nói
khác đi, giả định một ngân hàng thương mại rơi vào tình huống mất thanh khoản
ngoại tệ thì việc hỗ trợ từ Ngân hàng Nhà nước là không hề đơn giản như với mất
thanh khoản VND.
Một tác
hại thứ hai là, nếu doanh nghiệp cứ vay USD nhiều thì tất yếu đến hạn phải trả.
Giả định doanh nghiệp có một khoản vay USD đến hạn trả thì phải mua USD để trả
nợ cũ thì mới được vay mới. Khoản USD vay mới có thể được doanh nghiệp bán ra,
thu VND về và xét về tổng thể cân đối cung cầu của thị trường, chúng không tiêu
tốn nhiều ngoại tệ mà chỉ hoán đổi từ “túi” nọ sang “túi kia”.
Đó là lý
do vì sao suốt ba năm qua, tín dụng ngoại tệ tăng vượt trội so với tín dụng nội
tệ nhưng chưa phát sinh quá nhiều nhu cầu mua ngoại tệ để trả nợ vay. Nhờ đó mà
không gây áp lực lên tỷ giá trong suốt một thời gian dài.
Thế
nhưng, đến một lúc đó, áp lực về thanh khoản ngoại tệ sẽ căng thêm; thêm vào
đó, nếu có một biến cố thị trường khiến doanh nghiệp tin rằng tỷ giá sẽ tăng trong thời gian tới,
họ sẽ gia tăng mua USD để trả nợ vay và áp lực lên tỷ giá tại một thời điểm nhất
định là khó tránh khỏi.
Ngập ngừng giảm
lãi suất VND:
Quan sát
thị trường trong các năm 2013 và 2014 cho thấy, tại một số thời điểm, khi doanh
nghiệp kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng biên độ tỷ giá, lập tức xuất
hiện khá lớn nhu cầu mua ngoại tệ trả nợ trước hạn của doanh nghiệp là khá lớn.
Đó là một tất yếu, khi mà cho vay nhiều thì cục nợ sẽ lớn thêm và cùng đó là rủi ro, ép ngược lên Ngân hàng Nhà nước.
Đó là một tất yếu, khi mà cho vay nhiều thì cục nợ sẽ lớn thêm và cùng đó là rủi ro, ép ngược lên Ngân hàng Nhà nước.
Một điều
đáng lưu ý là Ngân hàng Nhà nước đang khá kiên trì với mục tiêu chống "đô
la hóa" nhưng một khi, quan hệ vay mượn ngoại tệ vẫn trong tình trạng trên
thì rất khó hiện thực hóa mục tiêu trên vì xét cho cùng, nhà nước đang thừa nhận
sử dụng ngoại tệ trong nền kinh tế.
Nói cách
khác, chỉ khi nào, quan hệ mua bán ngoại tệ thay thế hoàn toàn quan hệ vay mượn
ngoại tệ thì mới thành công trong việc chống "đô la hóa".
Không phải
Ngân hàng Nhà nước không nhận ra điều này. Tại cuộc họp Chính phủ tháng 5/2014,
ông Nguyễn Văn Bình, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nêu quan điểm: “Nhiều nhà
kinh tế khuyến cáo Ngân hàng Nhà nước cần giảm lãi suất VND hơn nữa để tránh áp
lực chi phí vốn cho doanh nghiệp nhưng trong dài hạn, vị thế của VND sẽ bị ảnh
hưởng và Ngân hàng Nhà nước phải cân nhắc rất kỹ vấn đề này”.
Cần thấy là một thời gian rất dài, Ngân hàng Nhà nước đã có lý khi duy trì lãi suất tiền gửi VND cao hơn tiền gửi USD. Nhờ đó, người nắm giữ VND thấy có lợi hơn và tất yếu, sẽ bán ngoại tệ cho ngân hàng để nắm giữ VND.
Cần thấy là một thời gian rất dài, Ngân hàng Nhà nước đã có lý khi duy trì lãi suất tiền gửi VND cao hơn tiền gửi USD. Nhờ đó, người nắm giữ VND thấy có lợi hơn và tất yếu, sẽ bán ngoại tệ cho ngân hàng để nắm giữ VND.
Nhưng
cách thức này mới chỉ mới đem lại mặt tốt là chống găm giữ ngoại tệ, nâng cao vị
thế VND nhưng ở phía tiền vay ngoại tệ, lại xảy ra bất cập như nêu trên.
Vậy thì,
vấn đề là Ngân hàng Nhà nước phải tìm được điểm trung hòa lợi ích ở một ngưỡng
nào đó, để doanh nghiệp thấy rằng, dù đi vay ngoại tệ hay vay VND thì lợi ích
thu được cũng chỉ ở mức tương đồng. Đáng tiếc là ngưỡng này vốn được Ngân hàng
Nhà nước duy trì đã lâu nhưng đã phải là ngưỡng trung hòa lợi ích hay chưa thì
còn phải bàn.
Giả thiết
rằng, để khắc phục tình trạng trên, tới đây, Ngân hàng Nhà nước điều hành giảm
lãi suất VND với nhiều mục đích: giảm áp lực chi phí vốn cho doanh nghiệp,
tránh kéo dài tình trạng doanh nghiệp đổ xô vay ngoại tệ như từng diễn ra nhưng
còn lợi ích của các ngân hàng thì sao?
Trong bối
cảnh hiện nay, muốn giảm lãi suất VND thì lạm phát phải giảm hơn nữa. Trong khi
đó, hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng rất khó khăn, làm được đồng nào phải
trích lập dự phòng rủi ro theo thông thường, vừa phải trích lập 20% khoản nợ xấu
đã bán cho VAMC; trong khi tín dụng lại tăng trưởng chậm.
Việc giảm
lãi suất VND thực ra là đang đánh vào “nồi cơm” của chính các cổ đông ngân hàng
và thực tế là Ngân hàng Nhà nước không dễ tìm thấy tiếng nói đồng thuận trong vấn
đề này.
Đó là
chưa kể, nếu giảm lãi suất thì ai dám chắc dòng tiền gửi VND không bị ảnh hưởng,
bởi khi mà lợi ích kinh tế từ tiết kiệm bị bào mòn thì người nắm giữ tiền đồng
sẽ mang tiền săn tìm lợi ích ở mua bán ngoại tệ, vàng.
Và đó là
điều mà Ngân hàng Nhà nước không mong muốn.
Theo Vneconomy:
http://vneconomy.vn/2014062610389871P0C6/bom-no-cham-o-tin-dung-ngoai-te.htm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét