Thứ Hai, 28 tháng 4, 2014

Nguy cơ lớn nhất là ảo tưởng về an toàn nợ công

Nguy cơ lớn nhất là ảo tưởng về an toàn nợ công

         Nợ công đã gần tới 100% GDP. Nguy cơ nợ công của Việt Nam không nằm chủ yếu ở con số, mà ở ảo tưởng về mức độ an toàn, TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế phân tích.
         Nợ công gần 100% GDP:
Những thông tin mới về nợ công được đưa ra tại Diễn đàn Kinh tế mùa xuân đang diễn ra tại TP Hạ Long khiến nhiều chuyên gia kinh tế lo ngại.
nợ công, DNNN, GDP, đầu tư công, Trần Đình Thiên, bội chi
TS Trần Đình Thiên: Tốc độ tăng nợ công nhanh hơn cả GDP
TS Trần Đình Thiên cho biết, nếu theo quy định, tỷ lệ nợ công của ta là an toàn, với 55,7%, nhưng lại chứa đựng đầy rủi ro. Nếu như tính cả nợ của DNNN không được Chính phủ bảo lãnh nợ và nợ đọng xây dựng cơ bản thì nợ công của Việt Nam đã lên tới gần, hoặc hơn 100% GDP.

Nguy cơ nợ công của Việt Nam còn nằm ở tốc độ tăng nợ hiện nay, tăng nhanh hơn cả GDP. Chúng ta vay để trả nợ chứ không phải để sản xuất có nguồn mà trả nợ. Trong cơ cấu nợ, tỷ lệ nợ ngắn hạn lại quá lớn. Về năng lực trả nợ, khi nền kinh tế suy yếu thì Chính phủ không có tiền, DN suy yếu thì khó trả nợ. Nghĩa vụ trả nợ đang ở mức báo động.

Cụ thể, trong tổng số phát hành trái phiếu, 90% là trái phiếu Chính phủ, 80% trong đó được các ngân hàng thương mại mua. Khối lượng phát hành ngày càng lớn, nhưng thời gian đáo hạn lại quá ngắn, tổng số kỳ hạn có 3,2 năm.

Con số này cho thấy, hệ thống ngân hàng đang phục vụ khu vực DN ít hơn phục vụ Chính phủ. Tài khóa đang gặp nguy cơ lớn vì tốc độ tăng nhanh của nợ công và thời gian đáo hạn tập trung vào giữa năm 2014-2015, chưa kể, phải trả các khoản nợ xây dựng cơ bản.

Theo ông Thiên, nghĩa vụ trả nợ tăng nhanh, sẽ vượt qua vạch đỏ 25% thu ngân sách nhà nước trong năm nay, tức có thể là tỷ lệ 26,7%. Năm tiếp theo, nghĩa vụ trả nợ này sẽ đạt và vượt mức 30% thu ngân sách.

TS Thiên than thở, nợ công là một trong 2 điểm nút quan trọng nhất gắn với lưu thống vốn trong nền kinh tế. Trong khi đó, số liệu về nợ đang rất khác nhau, chuẩn mực đo không thống nhất, sai số quá lớn, quy mô nợ cũng rất lớn.

“Trên thực tế, dường như chúng ta có xu hướng đánh giá thấp nguy cơ của nợ so với thực tế. Lúc nền kinh tế yếu, nguy cơ của nợ sẽ tăng lên. Đây là điểm cần có đánh giá thẳng thắn và tích cực hơn”, ông nhấn mạnh.

Tổng sửa đổi về đầu tư công:

GS Nguyễn Quang Thái cũng đồng cảm với tâm tư của TS Thiên khi nói: “Phải đánh giá toàn diện, có tầm nhìn dài hơn chứ không quá tả hay quá hữu. Nợ trong 5 năm tăng gấp đôi, sau 5 năm nữa liệu có tăng gấp đôi nữa hay không trong khi nợ chưa theo chuẩn”.

Nợ công tăng nhanh còn có nguyên nhân lớn từ việc đầu tư công lãng phí. Nguyên Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên đã chỉ ra rất nhiều sự vô lý trong đời sống kinh tế hiện nay.

Ông than phiền: Công trình đua nhau khởi công, khánh thành, đua nhau chưa làm đã hỏng, hoàn thành rồi đắp chiếu để đó, hỏng hóc. Đường ống dẫn nước sạch sông Đà có gì phức tạp đâu mà trong 2 năm bị vỡ tới 6 lần. Làm cho dân cái cầu chỉ có 2,5 tỷ đồng, nếu tiết kiệm được một phần lãng phí thì không biết xây dựng được bao nhiêu cây cầu”,

“Đầu tư công vẫn rất lãng phí, thất thoát còn lớn”, ông Kiên nhấn mạnh.

Tóm lược về những điểm nghẽn hiện nay, TS Nguyễn Đình Cung, quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế TƯ nói, sản xuất kinh doanh yếu thì không thể có tiền đề phát triển cao được, nhưng chúng ta vẫn muốn tăng trưởng nên phải mở cửa đầu tư công, tăng chi tiêu công, thu hẹp đầu tư của khu vực tư nhân.

‘Tiền tệ đang có xu hướng nới lỏng là tốt nếu như thắt chặt tài khoá. Nhưng khi tài khoá đang cưỡi trên lưng hổ thì không thể thắt chặt được. Nền kinh tế đang có bất cập là vốn chảy vào khu vực có hiệu quả thấp, lao động chảy vào khu vực phi chính thức. Nếu tiếp tục chính sách như hiện nay thì dù trước mắt có một vài le lói thì trong trung hạn nền kinh tế rơi vào bất ổn như đã từng xảy ra”, TS Cung nhấn mạnh.

Theo ông, giải pháp tháo gỡ hiện nay là Nhà nước phải giảm chi, giảm mua trái phiếu chính phủ để tăng phần vốn còn lại cho khu vực kinh tế tư nhân. Quốc hội phải kiên quyết yêu cầu giảm bội chi bằng cách áp đặt thì may ra mới có dư địa khơi thông dòng chảy của khu vực kinh tế tư nhân. Nếu chi tiêu của Nhà nước vẫn thấy cần tăng thì phải cơ cấu lại tài sản chứ không nên cạnh tranh với dân trong huy động vốn cũng như lĩnh vực đầu tư.

Để giải tỏa nguy cơ nợ công nói chung, TS Thiên cũng cho rằng, cần phải xử lý hệ thống luật liên quan đến đầu tư công và DNNN theo cách đồng thời sửa 6 luật hiện nay, là luật Ngân sách, Doanh nghiệp, Đầu tư công, Xây dựng… trong một thời gian ngắn, theo quy trình đặc biệt. Ông nhấn mạnh, phải làm sao đặt việc sửa 6 luật này thật nhanh, khẩn cấp, để Quốc hội thông qua trong vòng 6 tháng.

Riêng luật Ngân sách, phải chú trọng áp dụng triệt để nguyên tắc ràng buộc ngân sách cứng, phân cấp ngân sách theo hướng tăng tính độc lập cho ngân sách trung ương và ngân sách địa phương

                                                                                                                                              Phạm Huyền
Theo Vietnamnet:
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/172967/nguy-co-lon-nhat-la-ao-tuong-ve-an-toan-no-cong.html


Nguồn: Tổng cục Thống kê và ước tính 2013 của tác giả

Từ những số liệu công bố của Tổng cục Thống kê, GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá thực tế bình quân năm 2013 sẽ đạt 1.960 USD (tăng 12,1% so với năm 2012). Tổng GDP của Việt Nam năm 2013 tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái bình quân sẽ đạt xấp xỉ 176 tỷ USD, tăng 13,2% so với năm 2012. Mức GDP bình quân đầu người như trên có thể được nhìn nhận dưới 4 góc độ.
Thứ nhất là tốc độ tăng tương đối nhanh và góp phần chuyển vị thế trong việc so sánh về GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái thực tế bình quân qua các năm với các nước. Vào năm 1988, GDP bình quân đầu người của Việt Nam rơi xuống mức rất thấp, Việt Nam nằm trong vài chục nước và vùng lãnh thổ gồm những nước nghèo nhất thế giới, chủ yếu do Việt Nam rơi sâu vào khủng hoảng, tỷ giá VND/USD ở mức rất cao… Cho đến trước năm 2010 Việt Nam vẫn còn nằm trong nhóm nước thu nhập thấp , mặc dù đã đạt 1.145 USD/người vào năm 2008, nhưng nếu loại trừ yếu tố trượt giá của USD thì Việt Nam vẫn chưa ra khỏi nhóm có thu nhập thấp. Từ năm 2010 đã chuyển sang nhóm nước có thu nhập trung bình.
Thứ hai, với quy mô dân số trung bình năm 2013 đã đạt 90 triệu người (từ 1/11/2013), với GDP bình quân đầu người như trên, tổng GDP của Việt Nam tính ra đạt 176 tỷ USD, trong đó có hơn 70% dành cho tiêu dùng cuối cùng và tỷ lệ tiêu dùng thông qua mua bán trên thị trường ngày một lớn, tính tự cấp tự túc ngày một giảm..., thì dung lượng thị trường của Việt Nam đã có sức hấp dẫn để thu hút đầu tư nước ngoài có dấu hiệu khởi sắc trở lại (ước tính năm 2013 số vốn đăng ký có thể đạt mức cao nhất từ 2009 đến nay; số vốn thực hiện ước đạt trên 11,5 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay).
Thứ ba, GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái thực tế tăng như trên do 3 yếu tố, trong đó có 2 yếu tố tích cực là tốc độ tăng dân số đã chậm lại tương đối nhanh và tỷ giá VND/USD bình quân tăng thấp, nhất là thời gian gần đây.
Thứ tư là bên cạnh các kết quả tích cực như trên, GDP bình quân đầu người của Việt Nam cũng có những mặt hạn chế, bất cập và còn do tác động của yếu tố chưa tích cực. Hạn chế rõ nhất là quy mô GDP bình quân đầu người tính bằng USD còn thấp (năm 2011 đứng thứ 7/11 nước trong khu vực, đứng thứ 34/47 nước và vùng lãnh thổ ở châu Á; năm 2013 có thể cải thiện hơn).
Do GDP bình quân đầu người tính bằng USD còn thấp, đã làm cho Việt Nam vẫn đứng trước nguy cơ tụt hậu về quy mô tuyệt đối, trong khi tốc độ tăng GDP tính theo giá so sánh mấy năm nay đã tăng chậm lại.
Để tăng GDP bình quân đầu người, cần tập trung làm cho GDP tăng trưởng cao lên, tốc độ tăng dân số tiếp tục chậm lại và tiếp tục ổn định tỷ giá.

                                                                                                                                                Minh Ngọc
Theo Chính Phủ:
http://baodientu.chinhphu.vn/Kinh-te/Goc-nhin-tu-GDP-binh-quan-dau-nguoi-nam-2013/188639.vgp

Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2014

Dấu hiệu lạm quyền vụ khám xét, giữ 559 lượng vàng?

Dấu hiệu lạm quyền vụ khám xét, giữ 559 lượng vàng?

 - Công an đã mở niêm phong trao trả 559 lượng vàng nhưng vẫn còn giữ hơn 14 ngàn USD của tiệm vàng Hoàng Mai. Dư luận đặt vấn đề, công an có lạm quyền khi xâm phạm vào tài sản cá nhân?
Tháo niêm phong tang vật…1 triệu USD
Liên quan đến vụ “Khám xét tiệm vàng, tạm giữ 559 lượng vàng ở TP.HCM” xảy ra ngày 24/4 ở tiệm vàng Hoàng Mai (số 384 đường Bùi Hữu Nghĩa, P.2, Q.Bình Thạnh, TP.HCM) như VietNamNet đã thông tin.
Diễn biến mới, chiều 26/4 đội cảnh sát kinh tế, công an Q.Bình Thạnh đã mở niêm phong, giao trả 559 lượng vàng cho chủ tiệm vàng Hoàng Mai, là bà Nguyễn Thị Thanh Mai (SN 1964).
tiệm vàng, công an, nghi vấn
Được biết tổng số vàng trên có giá trị 1 triệu USD, được xác định là tài sản cá nhân của bà Mai.
Tuy nhiên, đến nay cơ quan công an vẫn chưa giao trả 1 số tang vật khác đã thu giữ của tiệm vàng cũng như cá nhân bà Mai gồm: hơn 14.620 USD và hệ thống camera an ninh của tiệm vàng…
Theo diễn biến vụ việc, trưa 24/4 có 1 người đàn ông vào tiệm vàng Hoàng Mai nói muốn bán 100 USD. Ngay sau đó, khoảng 20 người mặc sắc phục công an lẫn thường phục ập vào tiệm vàng Hoàng Mai, thông báo rằng tiệm vàng mua bán ngoại tệ trái phép nên tiến hành kiểm tra, khám xét.
Căn cứ để lực lượng này thi hành công vụ là quyết định do bà Nguyễn Thị Thu Hà – chủ tịch UBND Q.Bình Thạnh, ký ngày 23/4 về việc “khám xét nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là chỗ ở”.
tiệm vàng, công an, nghi vấn
Việc lục soát 6 tầng là tiệm vàng Hoàng Mai tiến hành suốt gần 9h, đến 21h30 đêm 24/4. Sau đó, công an lập biên bản thu giữ hơn 14.620 USD, hệ thống camera an ninh…đưa về trụ sở.
Công an có niêm phong số vàng, gồm 559 lượng, chứa trong 3 tủ đặt tại tầng trệt của tiệm vàngCũng chính số vàng này, ban đầu công an đòi thu giữ, do bà Mai và nhân viên phản ứng quyết liệt nên công an chỉ thực hiệnniêm phong tại chỗ.
Tiếp sau đó, công an có mời bà Mai về trụ sở đội CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, công an Q.Bình Thạnh làm việc đến 23h đêm. Chưa đầy 30 phút sau, cảnh sát kinh tế tiếp tục đến tiệm vàng Hoàng Mai để làm việc kéo dài đến 4h sáng 25/4.
Chính vì “sốc” trước việc cơ sở kinh doanh bị khám xét và làm việc với cơ quan căng thẳng, mệt mỏi, ngày 25/4, sức khỏe bà Mai bị suy kiệt, nhập viện điều trị…
Ngày 26/4, bà Mai có uỷ quyền cho luật sư, thay mặt bà để làm việc với cơ quan công an.
Công an lạm quyền xâm phạm tài sản cá nhân?
Trong biên bản khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính,trước khi ký tên, bà Mai ghi rõ bên dưới “Tôi không vi phạm pháp luật. Không có bằng chứng tôi vi phạm pháp luật. Khám xét nhà là sai”.
tiệm vàng, công an, nghi vấn
Đáng nói, việc điều tra tiệm vàng Hoàng Mai có vi phạm hành chính trong việc thu mua ngoại tệ trái phép hay không, đến nay công an Q.Bình Thạnh chưa chính thức lên tiếng? Nhưng dư luận ít nhiều đặt vấn đề: có hay không việc công an có dấu hiệu lạm quyền khi khám xét, niêm phong, xâm phạm vào tài sản cá nhân của công dân, cụ thể của bà Nguyễn Thị Thanh Mai ?
Số vàng bị niêm phong là 559 lượng, chứa trong 3 tủ đặt tại tầng trệt tiệm vàng Hoàng Mai được chủ tiệm vàng trưng ra chứng cứ xác nhận là tài sản của cá nhânkhông phải là tài sản của tiệm vàngthuộc công ty TNHH một thành viên xuất nhập khẩu vàng Hoàng Mai.
Điều này thể hiển rõ trong “biên bản thoả thuận kiêm hợp đồng” ký ngày 1/1/2013 - bên A là bà Nguyễn Thị Thanh Mai, và bên B là công ty TNHH một thành viên xuất nhập khẩu vàng Hoàng Mai do bà Nguyễn Thị Thanh Mai (giám đốc) làm đại diện, ít nhiều thể hiện điều này. Nội dung văn bản cho biết, công ty Hoàng Mai do bà Mai làm đại diện xác nhận lượng vàng, ngoại tệ chứa trong 3 tủ trên là tài sản riêng, cá nhân của bà Mai.
Về việc có hay không hành vi mua bán 100 USD ở tiệm vàng Hoàng Mai đến nay vẫn chưa thể khẳng định. Chỉ biết danh tính người bán 100 USD vẫn là “bí ẩn”, chưa xuất hiện trong bất kỳ biên bản nào của cảnh sát kinh tế xác lập với phía tiệm vàng Hoàng Mai.
P.V VietNamNet đã đặt câu hỏi có hay không việc lạm quyền trong thi hành công vụ với một lãnh đạo của công an Q.Bình Thạnh, tuy nhiên vị này từ chối trả lời, chỉ cho biết vụ việc đang trong quá trình làm rõ.
                                                                                                                                                     Đàm Đệ
Theo Vietnamnet:
http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/172687/dau-hieu-lam-quyen-vu-kham-xet--giu-559-luong-vang-.html

Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

Nhà đầu tư nước ngoài ngại gì ở VN?

Các nhà đầu tư đang đặt nhiều kỳ vọng vào thỏa thuận tự do thương mại Việt Nam-EU và TPP
Báo cáo mới nhất từ Tổng cục thống kê (GSO) hồi cuối tháng Ba cho thấy Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong quý một năm nay giảm gần 50% so với cùng kỳ năm ngoái.
Tổng vốn FDI đăng ký trong ba tháng đầu năm 2014 chỉ đạt 3,334 tỉ đôla, giảm 49,6% so với mức 6,034 tỷ đôla cùng kỳ năm 2013.
BBC đã có cuộc phỏng vấn với ông Nicolas Audier, Ủy viên Ban điều hành của Phòng thương mại châu Âu (Eurocham) tại Việt Nam, để tìm hiểu đâu là nguyên nhân khiến những dự án FDI lớn vắng bóng ở thời điểm hiện tại, cũng như xu hướng FDI tại Việt Nam trong tương lai gần.
BBC: Tâm lý nào của giới đầu tư khiến những dự án FDI tại Việt Nam vắng bóng vào đầu năm nay, thưa ông?
Ông Nicolas Audier: Theo Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng mức vốn FDI trong năm 2013 là 21,6 tỷ đôla, cao hơn 54,5% so với con số của năm 2012.
Điều này cho thấy mức tín nhiệm của các nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường kinh doanh tại Việt Nam ngày càng tăng và đây một phần là nhờ nỗ lực bình ổn kinh tế của chính phủ Việt Nam.
Tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam ở TP.HCM ngày 24/3, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh nói cơ quan này sẽ tăng cường giản lược những thủ tục cần thiết để quản lý khu vực FDI hữu hiệu hơn.
Bên cạnh đó, ông Vinh cũng cho biết sẽ thúc đẩy việc bãi bỏ giấy phép đầu tư, ngoại trừ bốn trường hợp: Ngành ngân hàng, các dự án sử dụng nhiều vốn đất, các khoản đầu tư có thể gây ô nhiễm, và những dự án cần giấy chứng nhận để hưởng ưu đãi đầu tư.
Bước đi mới này của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy quyết tâm của chính phủ Việt Nam trong việc thu hút vốn FDI.
Thông tin vốn FDI tại Việt Nam giảm một nửa trong quý đầu năm 2014 là hợp lý với Chỉ số Môi trường Kinh doanh (BCI) của Eurocham trong quý cuối năm 2013.
Vào cuối năm ngoái, chỉ số biểu hiện mức tín nhiệm và sự kỳ vọng của các doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam chỉ đạt mức trung bình: 50 điểm, trong quý thứ ba liên tiếp.
Những vấn đề dẫn đến sự đình trệ này bao gồm nạn tham nhũng, thực thi luật pháp một cách không đồng đều, những rắc rối về hành chính và tình trạng thiếu minh bạch.
Những yếu tố khác ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của nhà đầu tư và dẫn đến sự suy giảm của FDI trong quý một năm 2014 còn bao gồm những tranh cãi xung quanh vấn đề giá chuyển nhượng, sự bất an về vấn đề pháp lý của các nhà đầu tư nước ngoài trong một số khu vực kinh tế của Việt Nam, sự yếu kém trong công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng như những hình thức ưu đãi đầu tư không thích đáng.
"Những vấn đề dẫn đến sự đình trệ hiện nay bao gồm nạn tham nhũng, thực thi luật pháp một cách không đồng đều, những rắc rối về hành chính và tình trạng thiếu minh bạch."
Ông Nicolas Audier, Ủy viên Ban điều hành của Phòng thương mại châu Âu
BBC: Theo ông thì vì sao các dự án FDI lớn lại vắng mặt vào lúc này?
Ông Nicolas Audier: Sự vắng mặt của các dự án lớn tại Việt Nam rõ ràng là có liên quan trực tiếp tới suy thoái kinh tế trên toàn cầu.
Bên cạnh đó, bất chấp những nỗ lực trong thời gian gần đây của chính phủ Việt Nam, tâm lý bất định về vấn đề pháp lý có thể sẽ vẫn gây tác động tiêu cực lên các nhà đầu tư nước ngoài muốn đặt chân vào Việt Nam.
Hai ví dụ về vấn đề này là vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động Mua bán và Sáp nhập (M&A) và cấu trúc Hợp tác Công tư (PPP).
Đối với M&A: Mặc dù hình thức kinh doanh gián tiếp này được Luật Đầu tư công nhận là một trong những kênh đầu tư chính, Việt Nam vẫn thiếu một khuôn khổ pháp lý rõ ràng trong vấn đề này.
Thêm vào đó, khuôn khổ pháp lý hiện nay không được áp đặt một cách đồng đều trên khắp cả nước và ở các cấp.
Chưa hết, trên thực tế, các nhà đầu tư nước ngoài thường xuyên phải đối mặt với nhiều khó khăn trong đầu tư gián tiếp hơn so với trong nước mình vì vấn đề giấy phép thường rắc rối và tốn thời gian.
Đối với PPP:Trong lúc nền kinh tế giữ vững mức tăng trưởng trong một thập kỷ qua, khiến dân số ở khu vực thành thị tăng trưởng nhanh chóng, cơ sở hạ tầng lỗi thời của Việt Nam đang ngày càng trở nên một chướng ngại vật lớn, kiềm chế đà tăng trưởng kinh tế. Đây là khu vực mà chính phủ cần đẩy mạnh đầu tư.
Mặc dù điều này có thể mang lại cơ hội thú vị cho những dự án FDI với quy mô lớn, tuy nhiên hiện vẫn không có một hệ thống pháp lý đủ bao quát để giúp thúc đẩy những dự án như thế.
Mô hình Xây dựng-Vận hành-Chuyển giao (BOT) có vẻ như đã lỗi thời, và các nhà đầu tư vẫn đang chờ đợi những khuôn khổ pháp lý rõ ràng hơn đối với cấu trúc PPP.
Trong Sách Trắng năm 2014 của Eurocham, chúng tôi đã bày tỏ quan ngại đối với vấn đề này và đã đưa ra những lời khuyên cụ thể đối với chính phủ Việt Nam nhằm lấy lại đà cho những hình thức đầu tư nói trên.
Việt Nam đang đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt từ các nền kinh tế trong khu vực
BBC: Ông có nghĩ là xu hướng này sẽ tiếp tục trong năm nay?
Ông Nicolas Audier: Dựa vào chỉ số BCI trong quý một năm nay, sự kỳ vọng và mức tín nhiệm của các doanh nghiệp châu Âu có vẻ như đang tăng lên lần đầu tiên kể từ năm 2012.
BCI đã tăng từ mức trung bình 50 điểm lên 59 điểm.
Những yếu tố quan trọng có thể đã đóng góp cho điều này bao gồm mức lạm phát thấp, sự tự tin đối với ổn định vĩ mô cũng như hy vọng thỏa thuận tự do thương mại EU-Việt Nam sẽ được ký kết trong năm nay.
Các yếu tố khác còn bao gồm sự hội nhập sâu hơn trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN, những đàm phán hiện nay về Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), kỳ vọng rằng những vấn đề được chỉ ra trong Sách trắng của Eurocham có thể sẽ được chấn chỉnh trong tương lai gần.
Tuy nhiên, chỉ số BCI mới nhất cũng cho thấy 30% những doanh nghiệp tham gia khảo sát vẫn đánh giá triển vọng trong tương lai ở mức tiêu cực, cao hơn mức 28% của năm ngoái.
Bên cạnh đó, những cơ hội đầu tư ở các quốc gia láng giềng trong thời điểm nguồn vốn bị thắt chặt đã khiến nhiều nhà đâu tư chuyển hướng ra khỏi Việt Nam.
Điều này cho thấy chính phủ Việt Nam cần tiếp tục khắc phục những vấn đề do cộng đồng doanh nghiệp chỉ ra.
Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn nghĩ rằng FDI sẽ tăng trở lại vào năm nay.
Những thành viên của chúng tôi vẫn đề cao quy mô của thị trường Việt Nam, những cơ hội kinh doanh tại đây cũng như lực lượng lao động rẻ và dân số với độ tuổi trung bình thấp.
Theo BBC:
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/business/2014/04/140404_fdi_eurocham.shtml


Lý do MobiFone thoát "gánh nợ" khi tách khỏi VNPT

Lý do MobiFone thoát "gánh nợ" khi tách khỏi VNPT

Trong khi quyết định phê duyệt cho MobiFone được tách khỏi VNPT của Thủ tướng đã nằm trong dự đoán giới viễn thông, thì việc nhà mạng này được "nhẹ nhõm" ra ở riêng mà không phải gánh theo gần 60 đơn vị khác của VNPT lại khiến nhiều người bất ngờ.
MobiFone, tái cơ cấu, VNPT, Bộ TT&TT, Trần Mạnh Hùng
Trước đó, trong Đề án Tái cơ cấu VNPT mà Tập đoàn này trình lên Chính phủ, MobiFone đã được lựa chọn để trở thành doanh nghiệp độc lập, nhưng với tư cách "con gà đẻ trứng vàng" chủ lực của VNPT hiện nay (chiếm tới 60-70% tổng lợi nhuận Tập đoàn), chỗ trống mà MobiFone để lại trong VNPT là rất lớn. Việc VNPT đề xuất MobiFone gánh theo 60 đơn vị khác trực thuộc VNPT, trong đó có rất nhiều đơn vị đang thua lỗ, được coi như một giải pháp giúp Tập đoàn "giải quyết các khó khăn trước mắt" và sớm có thể ổn định hoạt động trở lại dưới thời hậu MobiFone.
Ông Trần Mạnh Hùng, Tổng giám đốc VNPT từng tiết lộ con số thua lỗ của các đơn vị này vào khoảng 1600 tỷ, lớn nhưng không phải là quá nặng nếu so sánh với doanh thu hiện tại của MobiFone, và rằng kể cả khi phải gánh thêm khoản nợ đó, MobiFone vẫn đủ sức, đủ lực để hoạt động tốt, tăng trưởng và quay trở lại cạnh tranh ngang ngửa với hai nhà mạng còn lại là Viettel và VinaPhone.
Thế nhưng vào phút chót, kịch bản đó đã không diễn ra. Sau 3 phiên làm việc của Tập thể Thường trực Chính phủ chỉ riêng cho vấn đề tái cơ cấu VNPT, Chính phủ đã quyết định chỉ tách riêng MobiFone để cổ phần hóa. Đây là một quyết định "rất thận trọng, được cân nhắc kỹ càng" từ phía Chính phủ, Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Bắc Son cho biết.
Việc MobiFone một mình ra ở riêng sẽ giúp doanh nghiệp này đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, không mất thêm nhiều thời gian tính toán, định giá lại tài sản vì phải gộp thêm hơn 60 đơn vị hạch toán phụ thuộc của VNPT nữa. Trong khi đó, yêu cầu từ phía Chính phủ là MobiFone và Bộ TT&TT phải trình được lộ trình cổ phần hóa nhà mạng này sớm nhất có thể.
"Cổ phần hóa là trọng tâm của hoạt động tái cơ cấu các Tập đoàn lớn, nhằm huy động nhiều nguồn lực trong xã hội, đa dạng hóa thành phần kinh tế", Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son nhấn mạnh lại Thông điệp đầu năm của Thủ tướng, có vẻ như là lý do lớn nhất đứng sau quyết định liên quan đến số phận của MobiFone.
Và tất nhiên, việc không phải gánh thêm khoản thua lỗ 1600 tỷ cùng một bộ máy cồng kềnh, mất nhiều thời gian để tách - nhập, sắp xếp lại sẽ giúp MobiFone có một hồ sơ "đẹp", "sáng" để thu hút các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài khi tiến hành cổ phần hóa.
"Sau khi cổ phần hóa thành công, có lợi nhuận thì MobiFone có thể quay lại đầu tư cho VNPT cũng được", Bộ trưởng chia sẻ.
Trong cuộc Tọa đàm về Thị trường Viễn thông Việt Nam 2014, ông Phạm Hồng Hải, Cục trưởng Cục Viễn thông có áng chừng rằng, thời gian để cổ phần hóa xong MobiFone nhanh cũng sẽ mất 2 năm. Nhưng đó là với kịch bản doanh nghiệp này phải gánh thêm các đơn vị thua lỗ từ VNPT. Giờ đây, khi được một mình chia tách, MobiFone sẽ có thể đẩy được lộ trình cổ phần hóa này sớm lên, và đích đến 2015 trở nên "khả thi".
Rõ ràng, với việc "tháo xích" cho MobiFone, Chính phủ đã phát đi một thông điệp rõ ràng về nỗ lực cổ phần hóa doanh nghiệp, hướng đến một thị trường viễn thông bền vững, lành mạnh, cạnh tranh. Những ý kiến lo ngại của một số chuyên gia viễn thông lão thành trước đó về việc MobiFone tách ra để rồi lại quay lại trở thành doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trực thuộc Bộ - xem ra không còn cần phải đặt ra lúc này nữa. Còn nhớ cũng tại cuộc Tọa đàm nói trên, TS.Mai Liêm Trực, nguyên Thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông (tiền thân của Bộ TT&TT) đã nêu ý kiến rằng: "Tách MobiFone ra thì phải cổ phần hóa công ty này. Nếu tách MobiFone ra lại thành lập công ty Nhà nước để cho 3 anh cùng ngang ngửa nhau, cùng là Nhà nước cả thì tôi cho rằng không lành mạnh".
Liên quan đến việc cổ phần hóa MobiFone trong thời gian tới, Bộ trưởng Son khẳng định đây là một nhiệm vụ mà Bộ "chắc chắn phải làm tốt nhưng vẫn cần thận trọng". Hơn nữa, tất cả các đơn vị liên quan phải xác định đây là một "trách nhiệm chung" chứ không phải câu chuyện của riêng MobiFone.
Phải làm sao để cổ phần hóa thành công, để duy trì được một thương hiệu quốc gia quan trọng như VNPT và đảm bảo cho cả VNPT lẫn MobiFone đều có thể tiếp tục phát triển - đó là bài toán đang đặt ra cho Bộ TT&TT lúc này.
Tất nhiên, Bộ trưởng cũng nhận ra tình cảnh khó khăn của VNPT lúc này. Ông đã yêu cầu tất cả các đơn vị chức năng có liên quan hỗ trợ, tư vấn cho VNPT để triển khai đề án Tái cơ cấu đã được duyệt, như thoái vốn ra sao, giải thể những công ty nào, có nên sở hữu dưới 20% cổ phần tại MobiFone hay không?
Theo Vietnamnet:
http://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe-thong-tin-vien-thong/168948/ly-do-mobifone-thoat--ganh-no--khi-tach-khoi-vnpt.html

Ngân hàng ngày càng nhiều 'sâu'

'Nồi canh' ngân hàng ngày càng nhiều 'sâu'

Lòng tham luôn tồn tại, hiện hữu ở mọi nơi, song không ở đâu lòng tham bị kích thích mạnh mẽ, bị cám dỗ như ở ngân hàng.
Trong hầu hết các vụ án kinh tế đã và sắp được đưa ra xét xử gần đây như Huyền Như, bầu Kiên, Ngân hàng Phát triển chi nhánh Dak Nông, Agribank... ngân hàng luôn là đối tượng có liên quan. Không chỉ số lượng các tổ chức tín dụng bị “điểm danh” trong các vụ án ngày càng nhiều, mà số tiền ngân hàng bị mất hoặc có khả năng không thu hồi được ở cấp độ ngày một cao.
Vụ án nhỏ, ngân hàng mất cỡ vài trăm tỉ đồng. Vụ án lớn, một hay một số ngân hàng “cùng” mất hàng ngàn tỉ đồng. Ngân hàng quốc doanh dính líu tiêu cực có, ngân hàng cổ phần cũng không đứng ngoài.
Có vô số cách thức ngân hàng mất tiền, nhưng tựu trung lại tiền ngân hàng không tự dưng “mọc cánh” mà bay ra khỏi kho quỹ. Không có kẻ trộm nào cao thủ tới mức cướp ngân hàng trắng trợn ban ngày hay ban đêm như trong các bộ phim ăn khách kinh điển của thế giới. Các xe chở tiền của ngân hàng là loại chuyên dụng và an ninh tiền tệ gần như được đảm bảo tuyệt đối.
bầu-Kiên, ngân-hàng, Huyền-như, vụ-án-kinh-tế, lòng-tham
Đến nay việc phân loại ngân hàng vẫn chưa được thực hiện một cách chính thức và minh bạch.
Đa số trường hợp ngân hàng mất tiền do cán bộ, nhân viên nội bộ mất phẩm chất, cấu kết với doanh nghiệp “móc ruột” ngân hàng. Một số dự án “ma” được vẽ vời trên giấy, một số cán bộ tín dụng bị lòng tham che mờ bởi những khoản tiền “lại quả”, thậm chí một số bộ phận nghiệp vụ của ngân hàng “liên minh” với nhau để hóa phép, hợp thức hóa những khoản vay mà cả người vay lẫn cho vay đều biết khó lòng lấy lại được. Ở đây không phải rủi ro tín dụng, bên vay làm ăn thua lỗ, kinh doanh kém hiệu quả, dẫn đến nợ xấu không trả được. Ở đây là rủi ro phẩm chất, đạo đức một số cán bộ ngân hàng!
Lòng tham luôn tồn tại, hiện hữu ở mọi nơi, song không ở đâu lòng tham bị kích thích mạnh mẽ, bị cám dỗ như ở ngân hàng.
Nguy cơ của rủi ro đạo đức là không thể lượng định được. Những vi phạm cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng, lừa đảo, dùng thủ thuật nghiệp vụ biến trắng thành đen, không thành có, gây thiệt hại về tài sản nhà nước (đối với tiền của ngân hàng quốc doanh hay ngân hàng Nhà nước nắm cổ phần chi phối). Có quan điểm cho rằng mất tiền của ngân hàng cổ phần, tức là của tư nhân, cổ đông - nhà đầu tư gánh chịu. Đâu chỉ giới hạn đơn giản thế. Ngân hàng là nơi huy động vốn của dân cư. Liệu tiền mất đó ngân hàng có lấy vốn tự có ra bù đắp bằng cách hạch toán giảm vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ? Chưa có ngân hàng nào làm thế cả.
Trong sự xuống cấp về đạo đức của một số cán bộ ngân hàng, trách nhiệm đầu tiên thuộc về chính những ngân hàng chủ quản. Ở vị thế cấp cao, nhất là đối với lãnh đạo một số ngân hàng vướng vào vòng lao lý, là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước ngành, cụ thể là Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Trong vụ án Huyền Như, đại diện Viện Kiểm sát đã kiến nghị NHNN chấn chỉnh lại hoạt động của VietinBank vì ngân hàng này chưa làm tốt công tác quản lý cán bộ. Trong kết luận của Thanh tra Chính phủ về những sai phạm ở Agribank, công tác cán bộ và trách nhiệm của NHNN cũng được đề nghị phải xem xét lại. Sự chấn chỉnh đó là cần thiết. Tiếc rằng đến giờ NHNN cũng chưa một lần lên tiếng về vấn đề này.
Rộng hơn, việc quản lý cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo của những ngân hàng quốc doanh như Ngân hàng Phát triển Việt Nam thuộc thẩm quyền của cả Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính. Có lẽ đã đến lúc phải có những quy định công khai, luật hóa cụ thể về công chức ngành ngân hàng. Lòng tham luôn tồn tại, hiện hữu ở mọi nơi, song không ở đâu lòng tham bị kích thích mạnh mẽ, bị cám dỗ như ở ngân hàng, nơi hàng ngày người ta tiếp xúc với tiền bạc, vật chất. Trong môi trường đặc thù ấy phải có những rào cản chế ngự lòng tham, ngăn ngừa tiêu cực có thể xảy ra.
So với 5-10 năm trước lòng tin vào ngân hàng nói chung của dư luận đang bị tổn thương. Ngay cả những người làm ngân hàng cũng phải thốt lên môi trường kinh doanh tiền tệ giờ đây biến đổi nhiều quá. Cựu tổng giám đốc một ngân hàng cổ phần nói: “Làm ngân hàng hiện nay luôn phải đối phó với đủ chuyện đau đầu khi môi trường không còn trong sạch và vô tư như trước nữa”.
Nói thế không phải vơ đũa cả nắm. Còn đó những ngân hàng về tổng thể vẫn là địa chỉ kinh doanh hiệu quả, môi trường làm việc đáng mơ ước của nhiều người, nơi không xảy ra những vụ mất tiền, những dính líu đến án này, án nọ. Đề cập đến các vụ án, giới ngân hàng và không ít người ngoài đã từng chép miệng “con sâu làm rầu nồi canh”. Chỉ có điều khi các vụ án kinh tế ngày một phổ biến, khi mà tần suất xuất hiện trên các phương tiện truyền thông chuyện ngân hàng mất tiền ngày càng dày, người ta không khỏi hoài nghi về mật độ sâu trong nồi canh giờ ở mức nào. Và liệu có giải pháp tận gốc rễ nào ngăn ngừa sự dày thêm của mật độ đó?
Theo Vietnamnet:
http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/168977/-noi-canh--ngan-hang-ngay-cang-nhieu--sau-.html