Cần
hiểu rằng việc đi vay nợ về để trả nợ điều đó đang chứng tỏ khả năng tạo ra vốn
để trả nợ là không có.
TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung
ương đã nhận định như vậy trước tình trạng Việt Nam phải đi vay nợ để đáo hạn
các khoản nợ trước kia. TS Cung cho rằng: "Một cách hiểu khác còn nợ
mà phải đi vay thêm nghĩa là anh đang không có đủ năng lực để trả
nợ".
Không thể xem là bình thường!
- Thưa ông tại kỳ họp thứ 7 vừa qua, các vị ĐBQH đã
chỉ thẳng tình trạng, vay nợ về để đáo nợ và lo ngại, điều này sẽ khiến vấn đề
nợ công ngày càng nặng nề và khó giải quyết.Theo ông, vấn đề đi vay về đề trả
nợ có phải là một vấn đề mới không và vì sao?
- Chuyện đi vay về trả nợ vừa được Quốc hội bàn thảo và Bộ
trưởng Bộ Tài chính từng giải trình việc này không có vấn đề gì, không làm phát
sinh thêm nợ mới. Cá nhân tôi thì không đồng ý với quan điểm này.
Cần hiểu rằng việc đi vay về để trả nợ điều đó đang chứng tỏ
khả năng tạo ra vốn để trả nợ là không có. Hay nói cách khác phải đi vay thêm
nghĩa là anh đang không có đủ năng lực để trả nợ.
Tình trạng như thế không thể nói là bình thường được. Chỉ
cần hiểu đơn giản theo mô hình của một gia đình, phải đi vay nợ nhưng đến kỳ
hạn trả lại không tích lũy được tiền để trả nợ, như vậy là khả năng trả nợ kém
đi. Trong trường hợp này phải đi vay về để đảo nợ.
Đáng lẽ ra trong hoàn cảnh khó khăn về nguồn vốn, phải đi vay
rồi thì nguồn vốn đó phải dùng để tạo ra năng lực để trả nợ. Đằng này vay về
không phải để đầu tư, cũng không tạo ra nguồn lực mà là vay nợ về trả nợ có
nghĩa là yêu cầu về trả nợ ngày càng tăng lên. Điều này kéo theo khả năng trả
nợ tiếp tục giảm đi.
Tuy nhiên trong hoàn cảnh hiện nay thì buộc phải áp dụng
biện pháp trước đi vay về để đảo nợ trong giai đoạn ngắn hạn.
- Đúng là nguồn vốn vay đã không được đầu tư để sinh
lời, trong khi đầu tư công tràn lan lãng phí đã được nói đến nhiều lần; công
trình vay ODA giá cao và đội vốn gấp đôi đều đã được ghi nhận, nợ của các tập
đoàn nhà nước mà Chính phủ bảo lãnh ở mức rất cao… Với tình trạng hiện tại,
liệu Việt Nam còn kịp nhìn lại và điều chỉnh việc sử dụng các nguồn vốn vay?
Muốn như vậy thì phải làm gì? Tình trạng hiện nay nếu không được giải quyết sẽ
dẫn đến hệ lụy gì thưa ông?
- Thực ra vấn đề này hiện nay chúng ta đều đã biết và nhận
ra. So với trước đây thì nay chúng ta đang hy vọng nhiều vào Luật đầu tư công
như một công cụ để quản lý đầu tư công.
Rõ ràng việc thắt chặt ngân sách đối với đầu tư công phải áp
dụng một cơ chế, kỷ cương kỷ luật tài chính hết sức chặt chẽ đối với đơn vị đầu
tư nói chung và từng dự án nói riêng.
Muốn thắt chặt thì cần phải làm rõ trách nhiệm giải trình
của từng cá nhân phụ trách đối với từng dự án và cơ quan quản lý cũng phải rõ
ràng, rành mạch. Ví dụ đối với từng dự án không thể có chuyện điều chỉnh dự
toán đầu tư một cách tùy ý và tùy tiện như hiện nay.
Có thể phải coi kỷ luật ngân sách đối với từng dự toán như
một đạo luật, trong đó chính cơ quan đầu tư phải xác định được rủi ro có thể
xảy ra trong quá trình thực hiện. Theo đó rủi ro nếu xảy ra sẽ có tác động
đối với dự toán như thế nào và chỉ khi xảy ra thì mới được điều chỉnh dự toán.
Khi đó mức độ rủi ro ở mức nào thì điều chỉnh dự toán đến mức đó.
Cũng phải nói rằng phải xác định mức trần về rủi ro có thể
xảy ra và được điều chỉnh để từ đó thắt chặt ngân sách đối với dự án đầu tư.
Nếu những thứ làm thay đổi dự án, tức là yếu tố khác ngoài
rủi ro đã được xác định trước dẫn tới việc làm tăng dự toán thì chủ đầu tư và
các bên khác phải chịu trách nhiệm chứ ngân sách sẽ không bỏ thêm một xu.
Nếu không làm được điều này thì một nguy cơ rất lớn sẽ xảy
ra là lúc đầu xây dựng dự toán rất thấp để được thông qua. Khi có vốn rồi trong
quá trình thực hiện họ cứ tâng lên dần, điều chỉnh vốn lên mà không theo một
giới hạn nào. Đáng lẽ một dự án cần 10 tỷ đồng mới thực hiện xong nhưng khi lập
chỉ đề ra 5 tỷ rồi điều chỉnh lên không giới hạn.
Do vậy buộc các bên phải tính toán dự toán thật chu đáo và
cẩn trọng trước khi phê duyệt. Khi thực hiện thì phải hết sức khắt khe và kỷ
luật. Ngay cả ngân sách quốc gia khi Quốc hội đã ban hành rồi thì tất cả các
khoản chỉ được chi trong dự toán. Những gì được xem là chi vượt dự toán chỉ có
thể duyệt khi xảy ra rủi ro đã được xác định từ khi lập dự toán.
Việc này phải được thực hiện một cách nghiêm túc chứ không
phải việc điều chỉnh xảy ra thường xuyên như thời gian vừa qua. Trong khi
đó việc tại sao phải điều chỉnh nhiều như thế và ai là người chịu trách
nhiệm trong việc điều chỉnh thì không thấy được giải trình.
Chính câu chuyện này khiến cho tình trạng nợ càng nợ thêm
như chúng ta đã thấy.
|
|
Nguy cơ bất ổn kinh tế vĩ mô
- Chúng ta nói sẽ thắt chặt chi tiêu nhưng việc xin
đầu tư xây dựng cơ bản vẫn đang tiếp tục tiếp diễn. Doanh nghiệp Nhà nước dù cổ
phần hóa vẫn muốn xin được Chính phủ bảo lãnh nợ. Ông bình luận như thế nào về
thực trạng này? Nếu tiếp tục nuông chiều những đề xuất không hợp lý, vấn đề nợ
công của Việt Nam sẽ còn ở mức như thế nào? Nhìn ra trên thế giới, bài học nào
khiến Việt Nam phải xem xét và suy nghĩ?
- Vấn đề hiện nay chúng ta không chỉ có đầu tư mà là chi
thường xuyên cũng tăng rất nhanh.
Có lẽ chúng ta phải quay trở lại vai trò của nhà nước. Nhà
nước thực hiện vai trò đến đâu?. Nếu vai trò của nhà nước thu nhỏ lại thì hoạt
động sẽ ít đi. Còn hiện nay vai trò của nhà nước vẫn mở ra mà không nhìn thấy
giới hạn thì rõ ràng hoạt động của nhà nước đến đâu thì chi đến đó.
Cho nên muốn thắt chặt được ngân sách thì gốc của nó là vai
trò của nhà nước và vai trò của thị trường, các bộ, ngành đến đâu. Tức là chúng
ta chỉ cần làm rõ vai trò của từng chủ thể đến đâu sẽ dễ dàng để nhìn thấy
các khoản chi cần thiết tới mức nào.
Ví dụ nhà nước có cần đầu tư một hệ thống nhà hát hay không?
Hay là một hệ thống bảo tàng? Đây quả là những việc hoàn toàn không cần thiết
nhà nước phải đầu tư mà có thể để xã hội hóa.
Còn chuyện doanh nghiệp xin ưu đãi thì phải tuyệt đối không
có, kể cả với DNNN hay tư nhân. Trong trường hợp buộc phải có ưu đãi thì chỉ có
thể là dành cho nhiệm vụ của nhà nước.
Vấn đề này lại quay lại chức năng vai trò nhà nước ở mức độ
nào và nhà nước tập trung ưu tiên trong giai đoạn này vào lĩnh vực nào, mục tiêu
nào rồi mới ưu tiên ưu đãi để thu hút nguồn lực vào thực hiện. Chứ không thể
thực hiện theo kiểu dàn trải, chỗ nào cũng ưu ái thì rõ ràng là dẫn tới tình
trạng không có giới hạn của việc chi tiêu.
Còn nếu cứ tiếp tục nuông chiều thì đến một lúc nào đó sẽ
không thể cân đối được nguồn vốn. Mọi thứ sẽ bị phá vỡ thì đương
nhiên nhiều hệ lụy như khủng hoảng nợ công, nợ thương mại và dẫn đến bất
ổn kinh tế vĩ mô.
Bài học khủng hoảng châu Á 1997 -1998, khủng hoảng 2008-2009
của Hoa Kỳ chính là hệ lụy của sự bao bọc khi nhà nước làm không tròn vai.
- Hiện tại ở Việt Nam tồn tại hai thực tế: khai thác
tài nguyên thô để bán giá rẻ, vay nợ đầu tư mà không mang lại giá trị thặng dư
(dẫn tới tình trạng đi vay để tả nợ vay). Như vậy, phải nhìn nhận về nội lực
của nền kinh tế Việt Nam như thế nào?
- Điều đó có thể thấy cách thức tạo động lực để thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế không có.
Nếu việc kiểm soát hành vi hoạt động của doanh nghiệp
mà chính quyền không thật sự chặt chẽ thì đương nhiên các
tổ chức, doanh nghiệp sẽ chỉ chạy theo chỉ tiêu phát triển. Trong khi
đó đồng vốn không được quay vòng để tạo ra sản phẩm cạnh tranh trên thị trường
thì chuyện phải đầu tư để có tăng trưởng, phải bán than để tăng trưởng,
bán đất để lấy tiền đầu tư.
Khi một nền kinh tế không có động lực để phát triển thì lợi
ích nhóm, tham nhũng cũng sẽ xuất hiện.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Theo Nhipsongthoidai:
http://nhipsongthoidai.com.vn/kinh-doanh/tsnguyen-dinh-cung-viet-nam-dang-khong-du-nang-luc-tra-no-20140630160030856.htm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét